Dự án phục hồi và bảo tồn loài cây Huê Mộc (Dalbergia tonkinensis Praine) ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Dự án phục hồi và bảo tồn loài cây Huê Mộc (Dalbergia tonkinensis Praine) được sự tài trợ của tổ chức FFI và Delfra. Thời gian thực hiện: 5/2007- 5/2008. Dự án được thực hiện trên địa bàn huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế

1.    Bối cảnh

Huê mộc, hay còn có các tên gọi khác là Sưa, Trắc thối, có tên khoa học là Dalbergia tonkinensis Praine thuộc họ Đậu (Fabaceae) là loài gỗ quý hiếm nhóm I. Loài này hiện đang bị săn lùng và khai thác mạnh trong tự nhiên nên loài này đang có nguy cơ bị tuyệt diệt. Chính vì vậy, Huê mộc đã được các tổ chức bảo tồn trong và ngoài nước xếp vào nhóm nguy cấp cần bảo vệ nghiêm ngặt, được xếp vào nhóm thực vật IA (Nghị định 32/2006/NĐ-CP), Nguy cấp (Sách đỏ Việt Nam 2007), dễ tuyệt chủng (VU A1cd, Sách đỏ IUCN 1994).

Dự án ‘Bảo tồn cây Huê mộc’ được xây dựng thông qua chuyến khảo sát vào tháng 3/2007 của nhóm chuyên gia thực vật phối hợp giữa Trung tâm CORENARM và Bộ môn QLTNR&MT – Khoa Lâm nghiệp, ĐHNL Huế. Chuyến khảo sát được tổ chức ngay trong thời điểm hoạt động khai thác đang diễn ra gay gắt tại điểm phân bố duy nhất của cây Huê mộc ở đồi Cha Nghe (xã Hương Hữu). Ngay sau chuyến khảo sát, một dự án hỗ trợ điều tra hiện trạng và phục hồi loài cây này được gửi cho chương trình bảo tồn loài biểu trưng (Flagship Species Conservation) do tổ chức bảo tồn Động-Thực vật quốc tế (FFI) và được tổ chức này đồng ý tài trợ.

Mục tiêu tổng thể của dự án là nhằm bảo tồn và phát triển cây Huê mộc thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng và nâng cao nhận thức của xã hội trong việc quản lý sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bền vững. Cụ thể dự án tập trung vào 3 nhóm hoạt động chính bao gồm (i) Khảo sát, đánh giá hiện trạng vùng phân bố tự nhiên của cây Huê mộc tại địa bàn nghiên cứu; (ii) Xây dựng các mô hình phục hồi và phát triển cây Huê mộc theo hướng dựa vào cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu; và (iii) Đề xuất các hoạt động quản lý và duy trì thành quả sau khi kết thúc dự án.
Dự án được thực hiện trong 2 năm (7.2007-6.2009) thông qua sự phối hợp giữa Trung tâm CORENARM, Bộ môn QLTNR&MT, và các cơ quan chức năng trên địa bàn huyện Nam Đông.

2.    Kết quả thực hiện

Sau thời gian 2 năm thực hiện, dự án đã đạt được đầy đủ các mục tiêu đề ra. Cụ thể: dự án đã khảo sát chi tiết hiện trạng, đề xuất kế hoạch bảo tồn, triển khai các hoạt động trồng phục hồi làm tăng số lượng cá thể (ở khu phân bố tự nhiên và các vùng phụ cận), và xúc tiến các hội thảo nâng cao nhận thức về giá trị bảo tồn của cây Huê mộc.

Ở hợp phần điều tra khảo sát hiện trạng, nhóm điều tra ghi nhận vùng phân bố của loài Huê mộc rất hẹp, chỉ giới hạn trong phạm vi 10 ha của vùng núi đá vôi ở đồi Cha Nghe (thuộc địa bàn của 2 xã Hương Hữu và Thượng Long). Ngay trước và sau thời điểm phát hiện ra loài cây này ở đồi Cha Nghe (tháng 8/2006-7/2007) toàn bộ số cây mẹ (ước tính 50 cây mẹ) và cây con tái sinh đều bị khai thác kiệt. Kết quả điều tra chỉ phát hiện 4 cây con tái sinh còn sót lại ở khu vực phân bố trước đây (trong đó 3 cây ở khu phân bố tự nhiên và 1 cây ở nương rẫy). Với diện tích phân bố tự nhiên hẹp cộng với tác động khai thác kiệt do người dân gây ra, quần thể Huê mộc ở đồi Cha Nghe gần như bị tuyệt diệt hoàn toàn ngoại trừ hơn 100 cá thể tái sinh đã được bảo tồn chuyển vị (ex-situ) tại vườn ươm của Khoa Lâm nghiệp ngay sau đợt khảo sát tháng 8.2006. Kết quả điều tra còn ghi nhận thêm tất cả các cây con tái sinh do người dân mang về nhà trồng đều bị chết ngay sau đó do không áp dụng đúng kỹ thuật trồng cây bản địa và thiếu sự đầu tư chăm sóc phù hợp.

Sau khi nắm bắt hiện trạng, dự án đã họp lấy ý kiến người dân về các mô hình trồng phục hồi. Theo đó, dự án hỗ trợ trồng phục hồi 2 mô hình: trồng tập trung ở nương rẫy của hộ gia đình (Mô hình 1) và trồng phân tán trong vườn hộ (Mô hình 2). Đối với mô hình 1, dự án hỗ trợ 10 hộ ở ba thôn có diện tích nương rẫy ở đồi Cha Nghe trồng tổng cộng 500 cây (mỗi hộ được giao trồng 50 cây) xen kẽ trên các mô hình cây nông nghiệp ở nương rẫy. Mô hình 2 hỗ trợ 40 hộ ở ba thôn trồng phân tán tổng số 200 cây Huê mộc và 200 cây bản địa khác (Phao Lái, Lim xẹt, Gõ). Kết quả kiểm tra hiện trường vào tháng 3.2009 cho thấy: tỷ lệ sống của cây Huê mộc đạt 94% ở vườn hộ và 90% ở nương rẫy; Cây bản địa có tỷ lệ sống thấp hơn, cụ thể là 86% ở vườn hộ và 78% ở nương rẫy. Sau 2 năm trồng, cây Huê mộc đạt chiều cao bình quân 1.8-2.2m ở vườn hộ. Kết quả này cho thấy loài cây này rất dễ phát triển trong điều kiện được chăm sóc và bón phân đầy đủ

Để tạo được nguồn giống lâu dài và ổn định, Bộ môn QLTNR&MT đã tiến hành thử nghiệm nhân giống từ 3 phương pháp: nhân giống từ cây Rai, từ hạt, và bằng giâm hom. Kết quả cho thấy phương pháp nhân giống bằng giâm hom cho kết quả cao nhất về tỷ lệ sống (84%) và tốc độ sinh trường (sau 4-6 tháng cây cao 40-60cm và có thể xuất vườn). Tuy vậy, phương án gieo hạt mặc dù có tỷ lệ nảy mầm không cao (60%) nhưng vẫn được thử nghiệm để sau này giúp duy trì nguồn gen cây bản địa tránh lai tạp về sau.

Ngoài các hoạt động kỹ thuật hỗ trợ phục hồi và bảo tồn cây Huê mộc, dự án còn triển khai các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng bền vững các loài cây quý hiếm khác cho người dân và cán bộ ở địa bàn dự án. Thông qua 02 hội thảo chuyên đề liên quan đến các hoạt động bảo tồn, dự án đã phối hợp tốt với các ban ngành cấp huyện (UBND Huyện, Phòng NN&PTNT, Phòng TNMT) và cấp tỉnh (Sở KHCN, Liên hiệp các Hội KHKT, Trường ĐHNL) tổ chức các hoạt động ngoại khóa ở hiện trường, thảo luận với người dân trong huyện, và tổ chức các chuyên đề nghiên cứu cho sinh viên và cán bộ nghiên cứu liên quan đến các loài cây quý hiếm khác như Ươi (Scaphium lychnophorum), Trám (Canarium album), Dẻ gai (Castanopsis sp.), Re hương (Cinnamomum parthenoxylon). Các hoạt động này đã mang lại những kiến thức hữu ích cho cộng đồng trong việc tham gia bảo tồn và quản lý nguồn gen cây quý hiếm trên địa bàn huyện Nam Đông, cho các cơ quan hữu trách ở tỉnh và các vùng lân cận.

3.    Bài học kinh nghiệm

Dự án “Bảo tồn cây Huê mộc ở huyện Nam Đông” là một trong những ví dụ điển hình về khả năng huy động nguồn lực nhằm đáp ứng các yêu cầu cấp bách của địa phương trong công tác bảo tồn. Quá trình xây dựng dự án thể hiện sự nhiệt tình và tâm huyết của đội ngũ chuyên gia bảo tồn từ Trung tâm CORENARM, Khoa Lâm nghiệp, Hạt Kiểm lâm, Phòng NN&PTNT. Đây là sự phối hợp tích cực và có trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến quản lý và bảo tồn tài nguyên rừng trên địa bàn huyện. Mối quan hệ hợp tác này và đã và đang được duy trì thường xuyên thông qua các hoạt động hiện trường, nghiên cứu, và chuyển giao khoa học công nghệ.

Vai trò tích cực của chính quyền xã Hương Hữu và UBND Huyện Nam Đông đã thúc đẩy các hoạt động khảo sát, họp dân, và thực thi các mô hình phục hồi cây Huê mộc ở xã Hương Hữu. Trong các buổi họp triển khai hoặc báo cáo giữa kỳ, lãnh đạo UBND Huyện luôn quan tâm trao đổi, lắng nghe, và chia sẻ ý kiến với các chuyên gia phục hồi và người dân trong xã.

Trong thực tế, diện tích phục hồi Huê mộc nằm trên đồi Cha Nghe thuộc địa bàn của 02 xã Hương Hữu và Thượng Long. Do dự án chỉ hỗ trợ ban đầu cho người dân ở xã Hương Hữu nên phần diện tích thuộc xã Thượng Long vẫn chưa được phục hồi. Để dự án đảm bảo thành công lâu dài, đề nghị UBND Huyện hỗ trợ ngân sách cho xã Thượng Long tiến hành công tác phục hồi như đã triển khai ở xã Hương Hữu.
 

Trang trước Trang chủ In ấn
Các bài viết khác ...
» Dự án: Sự tham gia của mạng lưới XHDS về Thực thi pháp luật, Quản trị rừng, và Thương mại lâm sản (FLEGT) trong tiến trình thực FLEGT-VPA (Thoả thuận đối tác tự nguyện) (04-29-2016)
» Dự án Vận động công chúng tham gia xây dựng Qui chế quản lý tài nguyên vùng đệm thuộc khu bảo tồn Phong Điền (08-13-2014)
» Dự án nâng cao năng lực quản lý rừng giao cho cộng đồng ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế (08-13-2014)
 
 
Tiêu điểm
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích ứng biến đổi khí hậu
Bảo vệ và phát triển rừng
Thành công từ mô hình nuôi gà thả đồng
Hơn 1.330 cá thể voọc chà vá chân nâu trên bán đảo Sơn Trà
Mô hình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng hiệu quả, bền vững ở huyện Nam Đông, Thừa Thiên Huế
Mô hình quản lý rừng bền vững dựa vào cộng đồng tại thôn Xuân Lâm, xã Triệu Nguyên, huyện Dakrong, Quảng Trị
“Phát triển mô hình cây dược liệu gắn với quản trị rừng hiệu quả ở khu vực miền Trung”
Định hướng kinh doanh trồng rừng gỗ lớn
Hội thảo chuyên đề " Chia sẻ kinh nghiệm trong quản trị rừng hiệu quả"
Bhutan - nước đi đầu trong chống biến đổi khí hậu
CORENARM HƯỞNG ỨNG CHIẾN DỊCH BẢO VỆ TÊ GIÁC
CƠ HỘI
Dự án FLEGT khu vực miền Trung tuyển tư vấn cho lớp tập huấn "Phòng cháy chữa cháy cho các thành viên mạng lưới cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng"
Dự án FLEGT – Khu vực miền Trung kêu gọi tư vấn lần 2
Cơ hội làm việc với dự án FLEGT – Khu vực miền Trung
Dự án FLEGT khu vực miền Trung cần tuyển tư vấn
Dự án FLEGT đang tuyển nhóm tư vấn thực hiện hoạt động "Thiết lập mạng lưới cộng đống sống phụ thuộc vào rừng" và "Xây dựng mô hình quản lý rừng cộng đồng"
Dự án FLEGT khu vực miền Trung tuyển chuyên gia tư vấn
Hội thảo CÔNG TÁC GIÁM SÁT ĐẦU TƯ CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
KHỞI ĐỘNG QUỸ SÁNG KIẾN “TRẺ EM VÀ THANH NIÊN VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU” GIAI ĐOẠN 2015 – 2016
Đăng nhập
Tài khoản
Mật khẩu
Tin tổng hợp
Văn kiện hiệp định VPA/FLEGT
Năm 2020 gỗ Việt Nam có thể được cấp phép FLEGT
Chất dẻo sinh học là cách thức bảo vệ môi trường mới ở Nhật Bản
Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) hoàn tất đàm phán thoả thuận chống khai thác bất hợp pháp và thúc đẩy thương mại gỗ hợp pháp
Phương pháp phát triển cộng đồng dựa vào nội lực (ABCD)
Tập huấn "Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp đáp ứng yêu cầu VPA-FLEGT"
Tập huấn về Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp đáp ứng theo yêu cầu của VPA-FLEGT
"Không ai lại xông vào rừng cấm để làm thủy điện!"
Newsletter
Email của bạn:
Logo các đối tác
 

CORENARM - Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý Tài Nguyên

Địa chỉ: 126/14 Nguyễn Phúc Nguyên, Tp. Huế        ĐT: (84-54) 353 9229/3623600

Email: corenarm@gmail.com  Website: http://corenarm.org.vn/

Số lần truy cập: 1301839
Số người đang online: 2