Khảo sát xây dựng mô hình thí điểm về quản lý rừng cộng đồng theo tiến trình VPA – FLEGT
Trong năm 2014 chương trình đã xây dựng thành công các mô hình cho cộng đồng dân tộc thiểu số tại huyện A Lưới, trong năm 2015 dự án tiếp tục đầu tư thí điểm mô hình cho cộng đồng người Kinh tại huyện Đakrông – Quảng Trị. Để xây dựng thành công mô hình ngày 02 tháng 10 năm 2015 nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sát nhu cầu tại thôn Xuân Lâm – Triệu Nguyên – Đakrông – Quảng trị.

Làm sao vừa đảm bảo sinh kế người dân sống dựa vào rừng vừa đáp ứng được yêu cầu về hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp trong chiến lược tăng trưởng chung của ngành Lâm nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập với khu vực Châu Âu? Để đạt được những mục tiêu đó Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn quản lý tài nguyên đã phối hợp với dự án FLEGT Miền Trung tiến hành xây dựng mô hình thí điểm về Quản lý rừng cộng đồng đáp ứng các yêu cầu về gỗ hợp pháp theo tiến trình VPA – FLEGT tại huyện A Lưới – Thừa Thiên Huế và Đakrông – Quảng Trị. Trong năm 2014 chương trình đã xây dựng thành công các mô hình cho cộng đồng dân tộc thiểu số tại huyện A Lưới, trong năm 2015 dự án tiếp tục đầu tư thí điểm mô hình cho cộng đồng người Kinh tại huyện Đakrông – Quảng Trị. Để xây dựng thành công mô hình ngày 02 tháng 10 năm 2015 nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sát nhu cầu tại thôn Xuân Lâm – Triệu Nguyên – Đakrông – Quảng trị.

 

Đặc điểm sinh kế thôn Xuân Lâm
 
Xuân Lâm – xã Triệu Nguyên là thôn vùng cao của tỉnh Quảng Trị với 100% người dân tộc Kinh có hình thái phát triển kinh tế nông nghiệp đặc trưng theo hướng tự cung tự cấp. Các loài cây phát triển sinh kế chính cho người dân là lúa, sắn (mì), keo lai, đậu, một số loại cây ăn quả và cây gỗ phân tán phân bố lác đác. Các khu vực lân cận trong bán kính 5km không có cụm công nghiệp, khai thác khoáng sản, làng nghề, khu thương mại. Keo lai là loài cây trồng chính trên các diện tích rừng trồng, một vài diện tích được trồng xen keo và sắn trong thời gian đầu. Diện tích đất bỏ trống khoảng 30% trong khu vườn của các hộ dân. Hầu hết các hộ được hỏi (10/27 hộ tham gia họp) đều có liên quan đến tiền nợ ngân hàng. 
 
Tình hình quản lý bảo vệ Rừng tự nhiên và tiềm năng phát triển sinh kế
 
Rừng tự nhiên trên địa bàn xã Triệu Nguyên được giao theo hai hình thức là Giao cho cộng đồng thôn quản lý và giao cho nhóm hộ quản lý. Tại thôn Xuân Lâm – xã Triệu Nguyên được giao 100 ha rừng tự nhiên cho cộng đồng, 137 ha rừng IIA cho 14 hộ dân (trong đó có 9 hộ cư trú tại thôn Xuân Lâm, 5 hộ tại thôn Nà Nẫm). Khi giao rừng các cơ quan chức năng đã xây dựng quy chế, quy ước quản lý bảo vệ rừng đồng thời đã lập hồ sơ đo đếm trữ lượng trước khi giao cho người dân quản lý. Từ khi giao rừng đến nay trên địa bàn thôn Xuân Lâm người dân tuần tra bảo vệ với tần số rất thấp, hiện nay nhóm 14 hộ dân đã không còn đi tuần tra bảo vệ, diện tích giao cho thôn được nhóm 13 hộ nhận giao khoán bảo vệ từ Khu bảo tồn kết hợp bảo vệ. 
 
Mặc dù người dân nhận thức rõ vai trò cung cấp nước của rừng cộng đồng nhưng việc quản lý bảo vệ rừng tự nhiên trên địa bàn thực hiện chưa tốt. Kết quả từ khi quản lý bảo vệ tới nay trên diện tích 100 ha giao cho cộng đồng đã bắt được 5 vụ khai thác trái phép và áp dụng các biện pháp xử lý. Người dân chưa có tinh thần tự nguyện quản lý bảo vệ rừng cộng đồng do: Sự vận động người dân tham gia nhận rừng, kinh tế hộ khó khăn, ban tuần tra bảo vệ rừng chỉ có 3 người, không có tiền hỗ trợ tuần tra bảo vệ, chưa có mô hình phát triển sinh kế…Trên địa bàn quản lý các cán bộ kiểm lâm có năng lực quản lý hạn chế, cộng đồng không tham gia tích cực vào các hoạt động tuần tra bảo vệ do đó việc mất rừng vẫn diễn ra thường xuyên. Đặc biệt khu vực giao cho nhóm hộ tình trạng mất rừng diễn ra nhiều hơn, người quản lý bảo vệ bất lực trước lâm tặc.
 
Tiếp cận với các chương trình hỗ trợ tuần tra bảo vệ rừng. Người dân chưa được tiếp cận các chương trình tuyên truyền, tập huấn về kỹ năng tuần tra bảo vệ rừng cũng như việc phối hợp tuần tra bảo vệ rừng cùng với lực lượng kiểm lâm, công an, địa chính.
Một số người dân được hưởng lợi từ việc thu hái lâm sản ngoài gỗ nhưng phần lớn chưa được hưởng lợi gì từ diện tích rừng được giao. Rừng được giao là rừng nghèo, thổ nhưỡng thuộc loại có địa hình dốc đứng, núi đá nhiều, nhiều lâm tặc do đó việc khai thác lâm sản ngoài gỗ rất hạn chế và chưa có hưởng lợi từ nguồn gỗ sinh thêm. 
 
Tại thôn nhóm tiến hành khảo sát chưa có bất kỳ nguồn quỹ nào liên quan đến quản lý bảo vệ rừng, phát triển sinh kế người dân sống dựa vào rừng. Một số hộ được tiếp cận vốn vay phát triển sinh kế CDF do UBND xã quản lý có trả lãi theo hàng tháng, kế toán xã là người trực tiếp thu, chi nguồn quỹ này. Quy mô nguồn quỹ 576 triệu đồng, mỗi hộ được vay tối đa 10 triệu đồng, theo báo cáo 2014 nguồn quỹ tăng thêm sau khi trừ các chi phí là 4 triệu đồng. Chính quyền và người dân cam kết có thể quản lý được nguồn quỹ nếu có. Tại UBND xã có quỹ QLPTR được cấp 5 triệu đồng ban đầu. Quỹ thu mỗi khi người dân khai thác rừng trồng mỗi xít te thu 5.000 đồng. Qũy hiện đang được thực hiện tốt tại xã. Quỹ này chi cho sự phối hợp giữa kiểm lâm và công an quân sự, địa chính tuần tra bảo vệ chứ không có kinh phí hỗ trợ cho người dân.
Tiềm năng phát triển các mô hình sinh kế nông – lâm nghiệp dựa vào rừng trên địa bàn. Các loài cây lâm sản ngoài gỗ như: Mây nước, lá nón, ba kích…được người dân đề xuất trồng. Các loài cây bản địa dùng để làm giàu rừng như: Gõ, Phổ lái…được người dân đề xuất. Các mô hình chăn nuôi Dúi, Ong, Nhím được quan tâm. 
 
Tình hình canh tác Rừng trồng và khả năng xây dựng và phát triển các mô hình sinh kế
 
Toàn xã có 210 ha rừng trồng một số diện tích được các dự án 30A và các dự án BVPTR hỗ trợ cây con giống, phân cho người dân trồng rừng. Rừng trồng tại thôn Xuân Lâm – xã Triệu Nguyên được trồng Keo lai thuần loài. Thổ nhưỡng có đặc điểm địa hình có độ dốc lớn, dựng đứng, đất đai nhiều đá, sỏi. Các diện tích rừng đã trồng được từ 2 – 4 năm. Nguồn giống cung cấp cho trồng rừng không có nguồn gốc, có những diện tích được trồng bởi nhiều nguồn giống khác nhau. Giá trị trung bình sau mỗi chu kỳ canh tác 5 – 7 năm là 30 – 40 triệu đồng/ha. Trung bình khi khai thác mỗi ha cho 50 – 60 tấn. Tất cả các diện tích rừng trồng trên địa bàn đã chứng minh được chủ sở hữu thông qua các loại giấy tờ quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng.
 
Người dân chưa có kỹ thuật trồng rừng phù hợp. Mật độ trồng từ 1 – 1.5 mét là quá dày so với các chỉ tiêu kỹ thuật lâm sinh. Chu kỳ trồng rừng ngắn, không áp dụng các biện pháp tỉa thưa. Nhiều người dân đã được tiếp cận các biện pháp kỹ thuật trồng rừng mới của FSC trong thời gian gần đây nên chưa thể áp dụng được. Người dân chưa có hiểu biết về các loại thủ tục giấy tờ liên quan đến chứng minh nguồn gốc gỗ, cũng chưa có hiểu biết về tầm quan trọng của các loại giấy tờ thủ tục này. 
Các hộ dân bán rừng cho các chủ thu mua trên và ngoài địa bàn để tiến hành khai thác vận chuyển đến các nhà máy gỗ dăm là chính. Rất ít trong số gỗ được khai thác sử dụng cho mục đích khác. Giá cả sản phẩm bán ra không ổn định bên cạnh đó còn phụ thuộc nhiều vào địa hình rừng trồng. 
 
Hiện tại trên địa bàn xã Triệu Nguyên chưa có các mô hình thí điểm rồng rừng đạt chuẩn. Thời gian qua chi cục Lâm nghiệp đã tập huấn rừng trồng FSC và hỗ trợ 11.8ha toàn xã,Xuân Lâm 4ha. Quy trình tỉa thưa áp dụng cho rừng có chứng chỉ FSC 2 lần/chu kỳ 4 – 5 năm, 7 – 8 năm. Sau mỗi chu kỳ trồng dự kiến 1ha rừng bán được 150 -190 triệu/ha/12 năm chưa kể tiền thu từ các hoạt động tỉa thưa. Toàn thôn có 21.4 ha rừng trồng mới năm 2015 đều được tập huấn chứng chỉ FSC và cũng mong muốn tham gia trồng rừng theo quy trình FSC. 
Các chương trình dự án liên quan đến quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu. Dự án phát triển rừng trồng theo chứng chỉ FSC trong cuối tháng 9 năm 2015. Mới dừng lại ở bước tập huấn. 
 
Qua khảo sát nhu cầu và trao đổi thông tin với người dân và chính quyền địa phương nhóm tư vấn định hướng xây dựng phương án hỗ trợ tập trung vào các vấn đề như: công tác quản lý bảo vệ rừng; phát triển sinh kế hộ; hồ sơ gỗ hợp pháp; phát triển nguồn quỹ phát triển sinh kế cộng đồng đồng thời xây dựng các mô hình phát triển sinh kế các hộ dân sống dựa vào rừng.
Nguyễn Văn Hoàng/CORENARM
 

 

Trang trước Trang chủ In ấn
Các bài viết khác ...
» Bảo vệ và phát triển rừng (06-19-2017)
» Hơn 1.330 cá thể voọc chà vá chân nâu trên bán đảo Sơn Trà (05-24-2017)
» Mô hình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng hiệu quả, bền vững ở huyện Nam Đông, Thừa Thiên Huế (05-17-2017)
» Định hướng kinh doanh trồng rừng gỗ lớn (04-03-2017)
» Hội thảo chuyên đề " Chia sẻ kinh nghiệm trong quản trị rừng hiệu quả" (05-30-2016)
» Vương quốc pơ mu di sản ở Quảng Nam (05-12-2016)
» Bảo vệ rừng gắn với bảo tồn văn hóa (05-09-2016)
» Cách quản lý rừng ở thôn Tân Hối, xã Hồng Bắc huyện A Lưới (05-04-2016)
» Lan Gấm: Dược liệu quý đang bị khai thác cạn kiệt (04-14-2016)
» Phát hiện loài Chà vá chân xám quí hiếm tại khu vực Tây Nguyên (03-09-2016)
» Càng hội nhập, càng cần bảo vệ rừng (03-09-2016)
» Quảng Nam: Tồn đọng kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng (03-08-2016)
» Hội thảo khởi động mô hình thí điểm doanh nghiệp chế biến gỗ (03-02-2016)
» Việt Nam-EU đạt thỏa thuận về quản lý nguồn gốc gỗ nhập khẩu (01-23-2016)
» Một hoạt động truyền thông ý nghĩa (01-13-2016)
» Quảng Trị : Gần 21.000 héc ta rừng được cấp chứng chỉ FSC (12-03-2015)
» Chi trả dịch vụ môi trường rừng - Một trong mười thành tựu được vinh danh (11-30-2015)
» Tiếp thêm động lực bảo vệ rừng cộng đồng (10-19-2015)
» Quảng Bình: Tràn lan nạn lấn chiếm rừng (10-13-2015)
» "Điểm nóng" trong tranh chấp, lấn chiếm đất đai nông lâm trường (10-12-2015)
 
 
Tiêu điểm
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích ứng biến đổi khí hậu
Bảo vệ và phát triển rừng
Thành công từ mô hình nuôi gà thả đồng
Hơn 1.330 cá thể voọc chà vá chân nâu trên bán đảo Sơn Trà
Mô hình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng hiệu quả, bền vững ở huyện Nam Đông, Thừa Thiên Huế
Mô hình quản lý rừng bền vững dựa vào cộng đồng tại thôn Xuân Lâm, xã Triệu Nguyên, huyện Dakrong, Quảng Trị
“Phát triển mô hình cây dược liệu gắn với quản trị rừng hiệu quả ở khu vực miền Trung”
Định hướng kinh doanh trồng rừng gỗ lớn
Hội thảo chuyên đề " Chia sẻ kinh nghiệm trong quản trị rừng hiệu quả"
Bhutan - nước đi đầu trong chống biến đổi khí hậu
CORENARM HƯỞNG ỨNG CHIẾN DỊCH BẢO VỆ TÊ GIÁC
CƠ HỘI
Dự án FLEGT khu vực miền Trung tuyển tư vấn cho lớp tập huấn "Phòng cháy chữa cháy cho các thành viên mạng lưới cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng"
Dự án FLEGT – Khu vực miền Trung kêu gọi tư vấn lần 2
Cơ hội làm việc với dự án FLEGT – Khu vực miền Trung
Dự án FLEGT khu vực miền Trung cần tuyển tư vấn
Dự án FLEGT đang tuyển nhóm tư vấn thực hiện hoạt động "Thiết lập mạng lưới cộng đống sống phụ thuộc vào rừng" và "Xây dựng mô hình quản lý rừng cộng đồng"
Dự án FLEGT khu vực miền Trung tuyển chuyên gia tư vấn
Hội thảo CÔNG TÁC GIÁM SÁT ĐẦU TƯ CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
KHỞI ĐỘNG QUỸ SÁNG KIẾN “TRẺ EM VÀ THANH NIÊN VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU” GIAI ĐOẠN 2015 – 2016
Đăng nhập
Tài khoản
Mật khẩu
Tin tổng hợp
Văn kiện hiệp định VPA/FLEGT
Năm 2020 gỗ Việt Nam có thể được cấp phép FLEGT
Chất dẻo sinh học là cách thức bảo vệ môi trường mới ở Nhật Bản
Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) hoàn tất đàm phán thoả thuận chống khai thác bất hợp pháp và thúc đẩy thương mại gỗ hợp pháp
Phương pháp phát triển cộng đồng dựa vào nội lực (ABCD)
Tập huấn "Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp đáp ứng yêu cầu VPA-FLEGT"
Tập huấn về Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp đáp ứng theo yêu cầu của VPA-FLEGT
"Không ai lại xông vào rừng cấm để làm thủy điện!"
Newsletter
Email của bạn:
Logo các đối tác
 

CORENARM - Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý Tài Nguyên

Địa chỉ: 126/14 Nguyễn Phúc Nguyên, Tp. Huế        ĐT: (84-54) 353 9229/3623600

Email: corenarm@gmail.com  Website: http://corenarm.org.vn/

Số lần truy cập: 1301548
Số người đang online: 2