Mô hình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng hiệu quả, bền vững ở huyện Nam Đông, Thừa Thiên Huế


Thực hiện chủ trương giao đất giao rừng cho người dân địa phương quản lý bảo vệ. Tỉnh Thừa Thiên Huế đã thực hiện hoạt động thử nghiệm giao rừng từ những năm 2000. Đến năm 2016, tổng diện tích rừng tự nhiên giao cho các hộ gia đình, nhóm hộ, cộng đồng và các tổ chức khác đạt 31.626,3 ha, chiếm 15% tổng diện tích rừng tự nhiên toàn tỉnh. Tuy nhiên, hiệu quả quản lý bảo vệ và phát huy hiệu quả nâng cao sinh kế của người dân địa phương chưa thật sự cao. Hầu hết người dân và cộng đồng chỉ dừng lại ở hoạt động tuần tra bảo vệ theo định kỳ, không hoặc chưa tiến hành các hoạt động phục hồi, phát triển tài nguyên rừng. Trong bối cảnh đó, những ưu điểm mà thôn 3, xã Hương Lộc, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế làm được là đáng để suy nghĩ và học hỏi.

 Điểm sáng trong quản lý tài nguyên rừng và phát triển sinh kế

Thôn 3, xã Hương Lộc, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế là 1 trong 30 thôn được huyện Nam Đông giao rừng để quản lý bảo vệ và hưởng lợi lâu dài từ rừng. Thôn có 223 hộ, sống chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp, thu nhập bình quân thấp. Năm 2010, Hạt Kiểm lâm Nam Đông phát động phong trào và tổ chức các cuộc họp về giao đất giao rừng đến cộng đồng thôn. Trong đợt đầu vận động, chỉ có 29 hộ gia đình của thôn 3 nhiệt tình tham gia, phần lớn trong số họ không có đất để sản xuất. 
Khu vực rừng thôn 3, Hương Lộc, Nam Đông
 
Với khát vọng làm giàu từ rừng, cộng đồng đã từ đầu tư công sức thực hiện hoạt động tuần tra bảo vệ tài nguyên rừng được giao; đầu tư vào trồng rừng, làm giàu rừng, phát triển lâm sản ngoài gỗ. Ngoài sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, cơ quan chức năng và nỗ lực của BQL cộng đồng, Dự án ICCO đã hỗ trợ người dân địa phương trong công tác quản lý bảo vệ rừng bằng cách chi trả cho hoạt động tuần tra bảo vệ rừng với mức hỗ trợ 30.000 đồng/công tuần tra bảo vệ. 
Ban quản lý thôn đã họp, thảo luận và thống nhất với các thành viên trong tổ quản lý không sử dụng nguồn tiền này cho các cá nhân mà tích lũy lại để thành lập quỹ bảo vệ phát triển rừng cộng đồng. Với hơn 200 ngày công tuần tra được hỗ trợ, cộng đồng đã thành lập được quỹ với số tiền ban đầu hơn 50 triệu đồng. Từ nguồn quỹ này, với sự hỗ trợ về kỹ thuật, tư vấn của dự án, BQL đã tiến hành triển khai hoạt động vườn ươm tại rừng với ngày công của các hộ dân tự đóng góp để cung cấp cây giống bản địa và cây keo phục vụ hoạt động làm giàu rừng, cung cấp cây giống cho các hộ trong nhóm thực hiện hoạt động trồng rừng cộng đồng và rừng trồng của hộ gia đình. 
Đến thời điểm hiện tại cộng đồng đã trồng được 25 ha rừng trồng trên diện tích đất trống được giao; Trồng cây bản địa dưới tán rừng tự nhiên được 6.000 cây (Gió bầu, Lim, Kiền, Đào); Trồng được 500 cây thuốc nam chủ yếu là giống cây Ba Kích; Trồng được 500 gốc Tre lấy măng, và trồng được hơn 6.000 gốc mây nước vào các khu vực bờ ranh, khe suối. Hiện tại, nguồn quỹ bảo vệ và phát triển rừng của cộng đồng vẫn được duy trì với số tiền trên 60 triệu đồng. Cộng đồng thảo luận, bàn bạc và thống nhất cho các hộ gia đình trong nhóm vay luân phiên các hộ với lãi suất 0% để phát triển kinh tế hộ gia đình (5 triệu đồng/hộ/năm). Với sự hỗ trợ này và các hỗ trợ về mặt kỹ thuật, nhiều hộ gia đình trong nhóm quản lý rừng cộng đồng đã thực hiện các mô hình trồng trọt, chăn nuôi đem lại hiệu quả kinh tế cao cho gia đình, giải quyết được công ăn việc làm cho các thành viên hộ gia đình. 
Vườn ươm cây Kiền Kiền tại Nam Đông
 
Dự kiến đến cuối năm 2016 cộng đồng sẽ tiến hành khai thác 15 ha keo, với mức giá hiện nay, ước tính mức thu nhập từ nguồn khai thác rừng trồng này sẽ đem lại cho quỹ BVPTR của thôn được khoảng 500 triệu đồng. Đây là động lực rất lớn cho người dân địa phương tham gia quản lý bảo vệ rừng và sẽ là một điển hình cho các cộng đồng lân cận. BQL cũng đã xác định trồng lại rừng trên diện tích sẽ khai thác bằng giống cây keo có nguồn gốc để cung cấp gỗ gia dụng trong thời gian tới để mang lại lợi nhuận cao hơn cho hoạt động trồng rừng. 
 
Các bài học kinh nghiệm
Có tiền thu nhập cho quỹ, có đất sản xuất, cộng đồng thôn 3 Hương Lộc sẽ tiếp tục đầu tư tạo công ăn việc làm tăng thu nhập cho các thành viên giàu lên từ rừng cũng như sẽ tiến hành họp thôn để đóng góp hỗ trợ cho sự phát triển chung của cả cộng đồng. Với khát vọng làm giàu từ rừng, cộng đồng thôn 3 xã Hương Lộc là một minh chứng rất sinh động cho hiệu quả của hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng. Qua hiện trạng quản lý rừng cộng đồng chung của toàn tỉnh, cũng như kết quả khả quan của mô hình ở xã Hương Lộc, có thể rút ra một số bài học cho cả các cấp chính quyền và người dân địa phương:
Công tác giao đất, giao rừng cần xuất phát từ nhu cầu thật sự của hộ gia đình, nhóm hộ, cộng đồng và trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện.
Việc giao rừng, cần gắn liền với giao đất trống, đồi trọc để người dân địa phương ngoài việc bảo vệ phát triển diện tích rừng tự nhiên, còn có nguồn đất để phát triển rừng trồng, tạo nguồn thu về lâu dài cho cộng đồng.
Các giải pháp hỗ trợ sau giao rừng là cực kỳ cần thiết, đặc biệt là của chính quyền địa phương, các tổ chức NGO trong và ngoài nước, áp dụng kết quả nghiên cứu của các cơ quan đơn vị có liên quan. Sự hỗ trợ về kiến thức, kỹ thuật là cơ sở giúp người dân địa phương có định hướng đúng, thực hiện công việc theo thứ tự ưu tiên mức độ quan trọng. 
Tập huấn, nâng cao năng lực cho cộng đồng trong việc xây dựng tổ chức, đội ngũ, năng lực quản lý. Năng lực về mặt kỹ thuật như nhân giống, trồng và chăm sóc tài nguyên rừng, lập kế hoạch quản lý khai thác, quản lý nguồn tiền của cộng đồng và triển khai thực hiện công việc trong phạm vi của cộng đồng. 
Sự tham gia chủ động của người dân địa phương trong mọi hoạt động liên quan đến quản lý bảo vệ tài nguyên rừng như: lập kế hoạch, triển khai thực hiện, giám sát, đánh giá, nghiệm thu, xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích… 
Tính minh bạch trong việc chia sẻ thông tin từ cấp quản lý đến cấp cộng đồng là cơ sở để xây dựng niềm tin cho các thành viên trong nhóm cùng tham gia đóng góp xây dựng cũng như hưởng lợi từ thành quả lao động của nhóm.
 
Kết luận
Có thể thấy, giao đất giao rừng mới là bước đi đầu tiên trong việc đảm bảo quản lý bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng, gắn với nâng cao đời sống và sinh kế cho người dân địa phương. Cần có rất nhiều các hoạt động từ phía chính quyền và các bên liên quan như: Hỗ trợ sau giao rừng về mặt chính sách cũng như các hỗ trợ cụ thể về vật chất, kỹ thuật của các bên liên quan; Sự phối hợp của chính quyền địa phương và ban ngành có liên quan; Các hoạt động tập huấn nâng cao năng lực tổ chức, năng lực kỹ thuật cho cộng đồng và người dân địa phương; 
Bên cạnh đó, ở cấp độ cộng đồng cũng đòi hỏi phải có những yêu cầu rất thiết thực như: Minh bạch thông tin, xây dựng niềm tin trên cơ sở đóng góp và hưởng lợi công bằng cho toàn thể các thành viên tham gia là một việc làm cần thiết; Sự tham gia và đóng góp tích cực của người dân địa phương trong toàn bộ tiến trình lập kế hoạch, triển khai thực hiện, giám sát đánh giá, khai thác hưởng lợi; Xây dựng và áp dụng cơ chế hưởng lợi phù hợp. 
Thực hiện được các yêu cầu nêu trên, quản lý bảo vệ rừng cộng đồng bền vững không phải là điều không thể và mô hình quản lý rừng cộng đồng ở thôn 3, xã Hương Lộc, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế là một minh chứng tuyệt vời cho sự nỗ lực của cả chính quyền địa phương, các ban ngành liên quan và người dân địa phương. Đây là một mô hình cần được nhân rộng không chỉ ở địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. 

Trần Nam Thắng, Khoa Lâm nghiệp, ĐH Nông Lâm Huế