Hơn 1.330 cá thể voọc chà vá chân nâu trên bán đảo Sơn Trà


Voọc chà vá chân nâu (pygathrix nemaeus) thuộc họ khỉ cựu thế giới (nhằm phân biệt với loài khỉ tân thế giới), là quần thể linh trưởng đặc hữu của Đông Dương, đồng thời là loài sinh vật chỉ thị môi trường và nguồn gen quý hiếm. Tổ chức bảo vệ động vật hoang dã quốc tế tôn vinh voọc chà vá chân nâu là “nữ hoàng của các loài linh trưởng” chính nhờ vẻ đẹp khác thường. Theo Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), voọc chà vá chân nâu đang đối diện với nguy cơ tuyệt chủng cao, đứng thứ hai trong danh lục đỏ của IUCN về các loài bị đe dọa.

 Chương trình “Bảo tồn loài Voọc chà vá chân nâu và sinh cảnh sống của loài” đã được UBND thành phố Đà Nẵng phê duyệt, giao cho Trung tâm bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (Green Việt) thực hiện. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát bốn tuyến với tổng chiều dài 139 km tại 150 điểm trên bán đảo Sơn Trà với tần suất một tuyến lặp đi lặp lại ba lần từ 2-4km theo đường chim bay trên bán đảo Sơn Trà.

Ông Bùi Văn Tuấn, Trưởng phòng Nghiên cứu Khoa học (Green Việt) cho biết: Trong ba tháng đầu năm 2017, dùng phương pháp và thiết bị hiện đại, nhóm đã khảo sát và thu số liệu, tiến hành tổng hợp và phân tích số liệu dựa trên các thông số: Số cá thể/km2; số đàn/ km2 và số lượng cá thể trong một đàn. Mỗi tuyến khảo sát có hai thành viên, dùng GPS để định vị, dùng máy đo khoảng cách và đi bộ dọc theo tuyến với vận tốc 0,5km/giờ. Đoàn khảo sát xuất phát vào cùng một thời điểm, bắt đầu vào khoảng 6 giờ sáng và kết thúc lúc 17 giờ chiều. Khi phát hiện đàn voọc thì thu thập số liệu về sinh cảnh, độ cao, số lượng, giới tính để tập hợp dữ liệu. Kết quả, nhóm nghiên cứu đã ghi nhận được 1.335 cá thể Voọc chà vá chân nâu tương ứng với 237 đàn. Voọc hiện phân bố chủ yếu ở phía Bắc bán đảo Sơn Trà, với diện tích khoảng 3.130 ha.
 
Trong khi đó, theo báo cáo năm 2008 và 2010 của Tổ chức Bảo tồn linh trưởng thế giới, tại Sơn Trà chỉ có khoảng 300-350 cá thể voọc chà vá chân nâu, thì thực tế con số này cao gấp 4-5 lần. Lý giải về sự chênh lệch lớn này, ông Tuấn cho biết trước đây mới chỉ khảo sát một phần diện tích nhỏ, không phải toàn bộ bán đảo. Với kết quả này, nhiều nhà nghiên cứu khoa học, giảng dạy cho rằng Sơn Trà đang là nơi sinh sống của quần thể voọc chà vá chân nâu lớn nhất thế giới.
Vooc chà vá chân nâu ở bán đảo Sơn Trà (Ảnh: Sưu tầm)
 
Hội thảo cũng đã nghe nhiều ý kiến của các đại biểu đại diện các Sở, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội về tình trạng xâm hại môi trường tự nhiên, trong đó có loài voọc chà vá chân nâu tại bán đảo Sơn Trà thời gian qua, như: Xây dựng các khu du lịch trái quy hoạch; bê tông hóa nhiều diện tích trên bán đảo; bị chia cắt vùng sống do có nhiều tuyến đường; sử dụng quá nhiều xe cơ giới; khách du lịch lưu trú quá giờ giấc…
Các đại biểu khuyến nghị: Tăng cường sự giám sát hoạt động của du khách tại các trạm gác các điểm ra vào bán đảo Sơn Trà nhằm giám sát và giảm thiểu hoạt động bẫy bắt, săn bắn. Dừng và loại bỏ các dự án phát triển nằm trong vùng phân bố quan trọng của voọc ở phía bắc bán đảo Sơn Trà. Chú trọng hoạt động nâng cao nhận thức cho du khách trong việc ứng xử với động vật hoang dã trên bán đảo.
Ông Huỳnh Phước, Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật TP Đà Nẵng cho rằng: Việc cập nhật kết quả nghiên cứu về số lượng, sự phân bố và mật độ quần thể voọc chà vá chân nâu tại bán đảo Sơn Trà một cách chính xác và khoa học sẽ là cơ sở để TP Đà Nẵng và các ngành chức năng đưa ra giải pháp cần thiết nhằm bảo tồn loài tại Sơn Trà trong tình trạng bị tác động mạnh bởi nhiều mối đe dọa như hiện nay.
 
Kết thúc Hội thảo, gần 60 đại biểu, các phóng viên được Trung tâm Green Việt chia làm nhiều nhóm đi khảo sát một số vùng phía Bắc bán đảo, để xem loài động vật quý hiếm này. Điều đáng mừng là tất cả các nhóm đều tận mắt quan sát được các gia đình voọc (từ 2 đến 5 cá thể) đang sinh hoạt trên tán cây rừng, phần lớn các cá thể voọc rất dạn dĩ, ngồi yên để các phóng viên chụp hình.
Về lâu dài, Đà Nẵng cần phối hợp với các tổ chức bảo tồn thiên nhiên trong nước và thế giới thực hiện chương trình giám sát, theo dõi biến động và tình trạng phân bố của quần thể voọc theo chu kỳ. Phục hồi các sinh cảnh sống của Voọc nhằm bảo đảm môi trường sống, thức ăn, ngăn chặn các nguy cơ đe dọa đến sự tồn tại của loài. 
 
Theo bao van hoa