Bàn giao cây bản địa – thực hiện kế hoạch Trồng và phục hồi rừng tại xã Hương Sơn, huyện Nam Đông

Trên cơ sở kế hoạch đã được Trung tâm CORENARM thống nhất với 3 cộng đồng sau quá trình họp bàn, vào ngày 13/06 vừa qua, Trung tâm đã có buổi bàn giao cây bản địa để hiện thực hóa kế hoạch Trồng và phục hồi rừng tại Rừng cộng đồng thôn 2, thôn 3 và thôn 7 tại xã Hương Sơn, huyện Nam Đông.

Việc trồng bổ sung, phục hồi rừng, bảo vệ, phát triển rừng cộng đồng trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Nam Đông sẽ góp phần ổn định cấu trúc rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, nâng cao chất lượng rừng, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

Cây bản địa được lựa chọn để trồng phục hồi rừng là lim xanh. Đây là loài cây có tán lá rậm, hệ rễ phát triển và khả năng chống chịu gió bão tốt, nhất là trong bối cảnh thời tiết diễn biến ngày càng phức tạp như mưa to, bão lớn, lũ lụt, sạt lở đất và nắng hạn kéo dài.

Buổi bàn giao cây có sự tham gia của cán bộ Hạt Kiểm lâm Nam Đông, cán bộ địa chính-nông nghiệp xã Hương Sơn và đại diện Ban Quản lý Rừng cộng đồng các thôn.

Đại diện Trung tâm CORENARM cùng các bên liên quan tiến hành bàn giao cây cho các cộng đồng

Theo kế hoạch, các cộng đồng sẽ tiến hành vệ sinh rừng ở những khu vực bị lấn bởi bìm, giang và các loài cây phi mục đích; và trồng phục hồi ở những diện tích dễ bị lấn chiếm trồng keo và các diện tích rừng nghèo, ít cây tự nhiên trong tuần này nhằm hạn chế thấp nhất số lượng cây bị chết do nắng nóng.

Thời gian tới, Trung tâm vẫn sẽ tiếp tục phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện huyện Nam Đông và các bên liên quan để sẵn sàng hỗ trợ trồng và phục hồi rừng cộng đồng tại các địa phương khác.

CORENARM mong rằng thành quả của kế hoạch này sẽ được duy trì và nhân rộng trên địa bàn huyện Nam Đông nói riêng và toàn tỉnh nói chung, góp phần thực hiện Quyết định 62/2019/QĐ-UBND Ban hành Quy chế quản lý rừng cộng đồng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Hội thảo “Hợp tác thích ứng và chia sẻ lợi ích công bằng, bền vững trong quản lý rừng cộng đồng huyện A Lưới”

Sáng 27/05/2022, Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý Tài nguyên (CORENARM) phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện A Lưới tổ chức hội thảo “Hợp tác thích ứng và chia sẻ lợi ích công bằng, bền vững trong quản lý rừng cộng đồng huyện A Lưới” nhằm chia sẻ kinh nghiệm giữa các cộng đồng và các bên liên quan về các thuận lợi, khó khăn và tiềm năng trong quá trình thực hiện Quyết định số 62/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế trên địa bàn huyện A Lưới. Đây là một trong những hoạt động này nằm trong khuôn khổ dự án Đánh giá bản chất của quá trình chuyển tiếp rừng ở Việt Nam, dịch vụ hệ sinh thái và khả năng phục hồi sinh thái xã hội trong các cảnh quan rừng được quản lý tại địa phương (FTViet).

Tham dự hội thảo có đại diện của Hạt kiểm lâm huyện A Lưới, đại diện Quỹ phát triển rừng tỉnh Thừa Thiên Huế, TS.Nguyễn Thị Hải Vân – đại diện của dự án FTViet, đại diện của UBND huyện và các xã Trung Sơn, Hồng Kim, Quảng Nhâm, Hồng Hạ, đại diện Phòng TN&MT, phòng Dân tộc và đại diện các 6 cộng đồng được hỗ trợ bởi dự án FTViet triển khai QĐ 62 bao gồm Nhâm 1, Lê Triêng 1, Lê Triêng 2, Đụt, A Tia 1, Căn Tôm thuộc huyện A Lưới cùng các thành viên của Trung tâm CORENARM.

Hội thảo đã được nghe Ông Ngô Hữu Phước – Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện A Lưới báo cáo về Hiện trạng quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng A Lưới theo Quyết định số 62/2019/QD-UBND ban hành Quy chế Quản lý rừng cộng đồng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Đồng thời, từ phía Trung tâm CORENARM, TS.Ngô Trí Dũng-GĐ Trung tâm cũng đã Báo cáo tóm tắt sơ lược về hoạt động hỗ trợ xây dựng và triển khai phương án QLRBV cho 5 cộng đồng mà trung tâm đã hỗ trợ trong khuôn khổ của dự án FTViet. Bên cạnh đó, ông Trần Quốc Cảnh – PGĐ Quỹ phát triển rừng tỉnh Thừa Thiên Huế cũng đã có những chia sẻ về bài học kinh nghiệm cũng như tình hình sử dụng kinh phí từ chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn huyện A Lưới.

Ông Ngô Hữu Phước – Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện A Lưới phát biểu trong buổi Hội thảo

Trong nội dung chương trình, Hội thảo cũng đã nhận được nhiều ý kiến từ cộng đồng về những thuận lợi, khó khăn và thách thức trong quá trình thực hiện Quyết định số 62/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tại địa phương.

Cuộc thảo luận lấy ý kiến của các cộng đồng về quá trình thực hiện Quyết định số 62/2019/QĐ-UBND
của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tại địa phương

Tổng kết hội thảo, Ông Ngô Hữu Phước – Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện A Lưới đánh giá cao ý nghĩa các hoạt động của Trung tâm CORENARM và dự án FTViet trong thời gian qua tại địa bàn huyện, đồng thời cảm ơn các ý kiến đóng góp từ các đại diện các cộng đồng, và cho biết sẽ tiếp nhận các ý kiến, mong muốn của các cộng đồng để từ đó có những định hướng hỗ trợ cho công tác quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương ngày càng được tốt hơn.

CORENARM: Tiếp tục hành trình phục hồi rừng trong khuôn khổ của dự án FTViet tại huyện Nam Đông

Tuần vừa qua (9-11/05/2022), Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý Tài nguyên (CORENARM) đã phối hợp với chính quyền xã Hương Sơn, huyện Nam Đông tiến hành lập kế hoạch trồng rừng phục hồi tại rừng của các cộng đồng 3, cộng đồng 4 và cộng đồng 7 tại địa bàn xã Hương Sơn. Đây là các cộng đồng có rừng quản lý tiếp giáp với rừng của BQL RPH Nam Đông.

Mục tiêu của kế hoạch phục hồi rừng lần này nhằm phục hồi rừng tự nhiên tại các diện tích đất rừng cộng đồng, góp phần tăng hiệu quả công tác Quản lý & bảo vệ rừng cũng như sự phối hợp giữa cộng đồng và Ban Quản lý Rừng phòng hộ Nam Đông.

Trong 2 ngày (9–10/05/2022), Trung tâm Corenarm đã triển khai họp, lấy ý kiến cộng đồng, tham gia buổi gặp mặt có anh Sang – Cán bộ Địa chính xã Hương Sơn, Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý Tài nguyên (CORENARM) và đại diện 3 cộng đồng.

Buổi thảo luận đã được nghe nhiều ý kiến đóng góp quý báu, những kiến nghị bức thiết cũng như những mong muốn chính đáng của người dân về việc khôi phục lại rừng tự nhiên tại địa phương.

Buổi gặp mặt đại diện của các cộng đồng vào sáng ngày 10-05-2022

Nội dung trồng và phục hồi rừng được xây dựng dựa trên ý kiến của các cộng đồng. Loài cây được cộng đồng lựa chọn để trồng rừng phục hồi là các cây bản địa: lim, dỗi, chò.

Kết thúc buổi gặp mặt, đoàn đã cùng với cộng đồng đi thực địa để xác minh thực tế về diện tích đất rừng, hiện trạng của từng khu vực rừng.

Dự kiến, Trung tâm Corenarm sẽ hỗ trợ đồng đều mỗi cộng đồng trồng bổ sung 2ha tại các vùng đất trống, rừng nghèo và 3ha phát dọn chăm sóc tại các vị trí nhiều dây leo, bụi rậm như đã thực hiện ở các cộng đồng thuộc huyện A Lưới. Kế hoạch cụ thể sẽ được gửi lại cho BQL RCĐ sau khi Trung tâm họp bàn và thống nhất.

Cây dược liệu: Tiềm năng lớn trong phát triển kinh tế dưới tán rừng

Nhằm triển khai thực hiện Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 và Nghị định số 65/2017/NĐ-CP ngày 19/5/2017 của Chính phủ về Chính sách đặc thù về giống, vốn và công nghệ trong phát triển nuôi trồng, khai thác dược liệu, hoạt động khai thác tiềm năng, lợi thế trồng cây dược liệu đã và đang được các tỉnh chú trọng đầu tư phát triển, đặc biệt là mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng. Đây là giải pháp giúp bảo vệ tài nguyên rừng hiệu quả, đồng thời tạo sinh kế để người dân vùng cao phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập. Thời gian qua, mô hình này bước đầu mang lại hiệu quả.

Các vùng đất giàu tiềm năng

Ở các tỉnh miền núi, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc có độ che phủ rừng cao; đất đai và khí hậu đa dạng, phù hợp với nhiều loài cây dược liệu đang nghiên cứu và phát triển trồng xen dưới tán rừng đối với các loại cây dược liệu khai thác tự nhiên. Đây là giải pháp giúp bảo vệ tài nguyên rừng hiệu quả, đồng thời tạo sinh kế để người dân vùng cao phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập. Thời gian qua, mô hình này bước đầu mang lại hiệu quả và cần được nhân rộng trên địa bàn các tỉnh.

LÂM ĐỒNG

Khí hậu của Lâm Đồng chia thành 3 vùng gồm độ cao dưới 500m, từ 500 – 1.000 m và trên 1.000 m so với mực nước biển. Ở mỗi vùng này, đều phù hợp với phát triển một số loại dược liệu khác nhau. Từ đây tạo nên sự phong phú, đa dạng cho sản phẩm của địa phương. Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên rừng Lâm Đồng cũng rất phong phú với 513 nghìn ha đất có rừng. Đây là tiềm năng phát triển các loại cây trồng xen dưới tán rừng.

Tại đây, cây dược liệu được người dân đưa vào sản xuất từ lâu đời như actiso, diệp hạ châu, nấm linh chi, đông trùng hạ thảo, đảng sâm, trà hoa vàng, tam thất… Vùng sản xuất tập trung chủ yếu tại Thành phố Đà Lạt, huyện Lạc Dương, Lâm Hà, Đức Trọng, Đam Rông, Cát Tiên, Di Linh.

Điển hình là tại Thị trấn Lạc Dương (huyện Lạc Dương), gia đình bà Nguyễn Thị Kim Dung đang phát triển ổn định với mô hình trồng nấm linh chi đỏ Đà Lạt với quy mô nhà nấm rộng 72 m2. Theo chủ cơ sở, gia đình trồng nấm linh chi nhiều năm trước và đến năm 2020 thì tập trung phát triển theo hướng áp dụng công nghệ IoT (kết nối vạn vật) vào sản xuất. Đến nay, mô hình này cho hiệu quả kinh tế cao.  Với giá bán khoảng 450.000 đồng/kg, mỗi tháng, mô hình nấm linh chi đỏ trên diện tích 72 m2 cho gia đình bà Nguyễn Thị Kim Dung lãi ròng khoảng 5 triệu đồng.

Ngoài nấm linh chi, cây actiso ở Lâm Đồng cũng là cây dược liệu được phát triển phổ biến và tập trung nhiều ở thành phố Đà Lạt. Theo Sở NN-PTNT Lâm Đồng, tổng diện tích actiso ở địa phương khoảng 162 ha với sản lượng đạt trên 8 nghìn tấn.

Một số loại khác như trà hoa vàng, chè dây leo, sa nhân, nghệ đen, sâm cau… phù hợp với mô hình xen dưới tán rừng. Đối với các loại dược liệu này, một số doanh nghiệp, đơn vị đang đầu tư phát triển vùng nguyên liệu.

Sở NN-PTNT tỉnh Lâm Đồng cho biết, toàn tỉnh hiện có 59 doanh nghiệp thu mua các sản phẩm từ cây dược liệu để sơ chế, chế biến với tổng sản lượng trên 7 nghìn tấn. Trong đó nhiều nhất là tiêu thụ actiso với khoảng 45 doanh nghiệp, đơn vị thu mua, tiếp đến là đông trùng hạ thảo 15 doanh nghiệp và nấm linh chi 10 doanh nghiệp thu mua.

TUYÊN QUANG

Tỉnh Tuyên Quang có độ che phủ rừng tới 65%, dưới tán rừng có nhiều loài cây dược liệu quý mọc tự nhiên như: khôi nhung, thảo quả, hương nhu, sả, nghệ, giảo cổ lam, cà gai leo… Đặc biệt, ở huyện Lâm Bình còn sưu tầm được một loại thảo dược quý là trà hoa vàng hay “Kim hoa trà”, trà trường thọ được mệnh danh là “Nữ hoàng của các loại trà”, đang trồng thử nghiệm để tiến tới nhân rộng.

Từ năm 2018, tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược phát triển ngành dược đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; trong đó định hướng phát triển trồng cây dược liệu dưới tán rừng với mục tiêu: giai đoạn 2016-2020 trồng 1.200 ha cây dược liệu dưới tán rừng tự nhiên, giai đoạn 2021-2025 trồng 300 ha.

Ở huyện Sơn Dương có ba xã là Hợp Hòa, Sầm Dương và Văn Phú đã đưa cây cà gai leo vào trồng trên diện rộng, giá thu mua cây tươi khoảng 30 nghìn đồng/kg, bình quân mỗi sào cũng thu gần chục triệu đồng/vụ. Mỗi năm thu được ba vụ đem lại nguồn thu nhập đáng kể. Năm 2021, sản phẩm cà gai leo của xã Hợp Hòa đã được công nhận đạt tiêu chuẩn 4 sao OCOP.

ĐỒNG NAI

Với tổng diện tích rừng hơn 172 ngàn ha, gồm 123,7 ngàn ha rừng tự nhiên, 49 ngàn ha rừng trồng, Đồng Nai là địa phương có tỷ lệ che phủ rừng lớn nhất trong khu vực Nam bộ. Hiện, tỉnh này vẫn đang thực hiện chủ trương đóng tất cả các loại rừng tự nhiên. Với rừng phòng hộ và rừng sản xuất, tỉnh đặt ra nhiều giải pháp để khai thác tiềm năng phát triển kinh tế dưới tán rừng.

Thời gian qua, một số mô hình phát triển kinh tế dưới tán rừng cũng được người dân triển khai như: Trồng vối, đinh lăng, bạc hà, nghệ vàng… dưới tán rừng. Một số nơi cũng bắt đầu thiết kế và khai thác được các hình thức du lịch đặc thù, hấp dẫn nhờ những lợi thế sẵn có của rừng.

Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện Xuân Lộc đã tổ chức trồng thí điểm 3 mô hình, bước đầu cho kết quả tốt như: Trồng điều và cây dược liệu quế, bình vôi, đinh lăng, sả kết hợp trồng bổ sung cây lâm nghiệp như sao, dầu; trồng điều, rau rừng kết hợp trồng bổ sung cây lâm nghiệp và mô hình trồng điều, chuối rừng kết hợp trồng bổ sung cây lâm nghiệp. 

Bên cạnh đó, Công ty THE VOS sẽ hợp tác với BQL Rừng phòng hộ Xuân Lộc triển khai đầu tư dự án trồng nấm linh chi dưới tán rừng keo lai với quy mô ban đầu khoảng 230 ha. Các hộ dân tham gia chương trình sẽ được doanh nghiệp hỗ trợ về giống nấm, chuyển giao kỹ thuật canh tác và bao tiêu sản phẩm… Dự kiến, doanh thu từ nấm linh chi trồng dưới tán rừng trong 8 tháng đạt khoảng 200 triệu đồng/ha, lợi nhuận 70 triệu đồng/ha, giải được bài toán sinh kế cho người trồng rừng và mang lại nhiều lợi ích thiết thực về kinh tế, môi trường, giúp công tác quản lý, phát triển rừng bền vững hơn.

Một số mô hình kết hợp trồng nấm linh chi dưới tán rừng đã cho hiệu quả rất tốt tại Đồng Nai. (Ảnh: Minh Sáng)

Tổng Giám đốc Công ty TNHH Lâm nông nghiệp vi sinh VOS HARVEST, ông Trần Thanh Sang, kiêm Giám đốc Phát triển dự án của Công ty TNHH Hệ sinh thái THE VOS cho biết: “Nấm linh chi trồng dưới tán rừng sẽ được doanh nghiệp chúng tôi thu mua và xuất khẩu đi Nhật Bản và nhiều nước trên thế giới. Mục tiêu của dự án sẽ mở rộng cho người dân trồng rừng. Doanh nghiệp cũng sẽ cung cấp nguồn giống, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ trồng và bao tiêu sản phẩm cho người trồng”.

“Nút thắt” trong phát triển mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng keo

Thực tế, phát triển kinh tế dưới tán rừng đã được Chính phủ, Bộ NN-PTNT cùng các địa phương có diện tích rừng lớn nghiên cứu và áp dụng từ khá lâu. Tùy theo đặc thù của từng địa phương, từng loại rừng, kinh tế dưới tán rừng có thể khai thác mạnh ở các ngành khác nhau như du lịch, chăn nuôi, trồng và sản xuất dược liệu…

Tuy nhiên, việc trồng, thu hoạch cây dược liệu còn nhỏ lẻ, manh mún, chủ yếu mang tính tự phát do chưa có hướng dẫn cụ thể về cải tạo, trồng dưới tán rừng tự nhiên; việc thu hái thiếu ý thức bảo tồn, tái sinh đã làm suy giảm nghiêm trọng tài nguyên cây thuốc trong tự nhiên. Thị trường đầu ra cũng chưa ổn định nên người dân chưa yên tâm sản xuất.

Bên cạnh đó, hầu hết các vùng nguyên liệu về cây dược liệu đều ở các huyện, xã vùng sâu, vùng xa, điều kiện hạ tầng hạn chế dẫn đến khó tiêu thụ sản phẩm.

Kết luận

Trồng và phát triển cây dược liệu dưới tán rừng không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo tồn nguồn gen quý, tạo thảm thực vật chống xói mòn đất, ngăn lũ… Do vậy, các ngành chức năng và các địa phương cần tập trung chỉ đạo để thực hiện có hiệu quả Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ; tập trung xác định vùng trồng đối với một số loài cây dược liệu chủ lực, bổ sung cơ chế chính sách thu hút đầu tư trồng cây dược liệu, khuyến khích doanh nghiệp có năng lực liên kết với hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ gia đình, cá nhân đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu phù hợp với điều kiện tự nhiên gắn với xây dựng nhà máy chế biến, bao tiêu sản phẩm; đồng thời, đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân, hỗ trợ xúc tiến thương mại, tăng cường quản lý, giám sát sản phẩm bảo đảm chất lượng và an toàn thực phẩm.

Nguồn: Tổng hợp

Khảo sát khu vực phân bố tự nhiên của các loài dược liệu thuộc Đề tài KHCN cấp tỉnh “Nghiên cứu giải pháp quy hoạch và phát triển tài nguyên dược liệu theo các tiểu vùng sinh thái khác nhau của tỉnh Thừa Thiên Huế”

Sau thời gian thu thập, tổng hợp thông tin dữ liệu thứ cấp về các nhóm loài dược liệu hiện có và tiềm năng từ các đơn vị và địa phương liên quan, nhóm nghiên cứu đã xây dựng bộ tiêu chi lựa chọn các loài tiềm năng và đưa ra danh mục hơn 20 loài dược liệu có giá trị, phân bố tại 05 tiểu vùng sinh thái của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Để khảo sát khu vực phân bố tự nhiên của các loài dược liệu bao gồm: đặc điểm địa hình, điều kiện khí hậu, đặc điểm thổ nhưỡng…Đồng thời, kết hợp với khảo sát một số mô hình trồng dược liệu và kinh nghiệm chế biến, sử dụng và bảo quản các nhóm loài dược liệu có giá trị đã được xác định, Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý Tài nguyên đã tiến hành phân chia thành các tuyến điểm khảo sát tương ứng với các tiểu vùng sinh thái.

Trong tuần đầu của tháng 4/2022, Corenarm đã triển khai đi thực địa ở các tuyển điểm tại A Lưới,… để lập ô tiêu chuẩn đo đếm mật độ phân bố và sinh trưởng, phát triển của các loài dược liệu, đồng thời lấy mẫu đất và phân tích các chỉ số thổ nhưỡng ở các vùng tự nhiên – nơi có mật độ phân bố tự nhiên các loài dược liệu nhiều.

Hoạt động thực địa tại tuyến điểm A Lưới trong 02 ngày 07 – 08/04/2022

Đây là cơ sở quan trọng để có được các báo cáo phân tích mức độ phù hợp giữa các loài dược liệu và đặc điểm sinh thái của từng địa phương, xây dựng bản đồ vùng phân bố tự nhiên và bản đồ quy hoạch vùng phân bố thích nghi của một số nhóm loài cây thuốc có giá trị đã được xác định.

Thông tin về đề tài vui lòng xem tại đây.

CORENARM tiếp tục hỗ trợ các cộng đồng trồng rừng phục hồi tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trong năm 2021, Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý Tài nguyên (CORENARM) đã hỗ trợ xây dựng phương án Quản lý rừng bền vững, Quy ước Quản lý Rừng cộng đồng tại Thôn Căn Tôm – Hồng Hạ, Nhâm 1 – Quảng Nhâm và A Tia 1 – Hồng Kim và Lê Triêng 1, Lê Triêng 2 –  Trung Sơn, thuộc huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế và đem lại những kết quả tích cực.

Để tiếp tục tạo động lực cho cộng đồng trong Quản lý, bảo vệ rừng, cũng như tiếp nối thành công trong việc hỗ trợ 02 cộng đồng Lê Triêng 1 và Lê Triêng 2 phục hồi rừng bằng các loài bản địa vào đầu năm 2022, CORENARM tiếp tục phối hợp với Hạt Kiểm lâm A Lưới đồng hành, hỗ trợ về cả tài chính và kỹ thuật lâm sinh trong chăm sóc, vệ sinh và trồng phục hồi ở các diện tích rừng nghèo, đất trống tại rừng của 03 cộng đồng Căn Tôm, Nhâm 1 và A Tia 1.

Hoạt động phục hồi rừng lần này sẽ góp phần cải thiện chất lượng rừng, giảm tình trạng bị xâm chiếm xung quanh đường giáp ranh giữa rừng tự nhiên của cộng đồng và nương rẫy cá nhân.

Trong 02 ngày, 22-23/03/2022, CORENARM đã triển khai họp thôn, lấy ý kiến tại các công đồng nói trên về kế hoạch trồng rừng phục hồi bao gồm: Giống cây, kinh phí, thời gian, địa điểm và diện tích trồng.

CORENARM tổ chức họp cộng đồng, thảo luận ý kiến tại Căn Tôm – Hồng Hạ

Cụ thể, Trung tâm hỗ trợ đồng đều mỗi cộng đồng sẽ trồng bổ sung 2ha tại các vùng đất trống, rừng nghèo và 3ha phát dọn chăm sóc tại các vị trí nhiều dây leo, bụi rậm. Một số loại cây bản địa phù hợp với khí hậu và đặc điểm thổ nhưỡng của A Lưới được bà con lựa chọn là Lim xanh, Chò, Sến.

Dự kiến, Trung tâm sẽ phối hợp với cộng đồng, Hạt kiểm lâm huyện A Lưới tổ chức trồng và phát dọn rừng trong tuần đầu tháng 4/2022– thời gian được cho là có khí hậu phù hợp với hoạt động trồng rừng tại A Lưới.

Nguồn: KieuOanh – CORENARM

Cơ hội mới để phát triển lâm nghiệp bền vững tại Đông Nam Á

Ngày 3-3, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho biết, đã ký kết khoản đầu tư cổ phần trị giá 15 triệu USD vào Quỹ Rừng nhiệt đới châu Á số 2 (TAFF2) thuộc New Forests để hỗ trợ các hoạt động lâm nghiệp bền vững ở Đông Nam Á và giảm khai thác gỗ rừng nhiệt đới tự nhiên bằng cách giúp các công ty trồng rừng được quản lý bền vững mở rộng quy mô hoạt động của mình.

Đầu tư của ADB sẽ giúp cải thiện sinh kế cho cộng đồng, tăng cường đa dạng sinh học và tác động tích cực đến khí hậu thông qua việc giảm khai thác gỗ rừng tự nhiên. Ảnh minh họa

Khoản đầu tư bao gồm 5 triệu USD từ các nguồn vốn thông thường của ADB và 10 triệu USD từ Quỹ tín thác Đối tác tài trợ khí hậu Australia (ACFP). Các khoản đầu tư của TAFF2 sẽ hướng tới mục tiêu thích ứng khí hậu cũng như giảm thiểu biến đổi khí hậu.

Bà Jannette Hall, Trưởng Ban Sáng kiến Đặc biệt và các Quỹ đầu tư Khu vực tư nhân của ADB, chia sẻ: “Đầu tư vào lâm nghiệp bền vững còn hạn chế ở các nước đang phát triển do những rủi ro về thị trường, chính trị và tài nguyên thiên nhiên. ADB mong muốn sẽ tạo thuận lợi cho các công ty lâm nghiệp với thông lệ hoạt động tốt, nhưng đang thiếu khả năng tiếp cận nguồn vốn tăng trưởng tham gia lĩnh vực lâm nghiệp mang tính thương mại và bền vững. Các hoạt động này sẽ giúp cải thiện sinh kế của các công nhân trồng rừng và cộng đồng sống nhờ rừng, tăng cường đa dạng sinh học và tác động tích cực đến khí hậu thông qua giảm khai thác gỗ rừng tự nhiên”.

Với quy mô mục tiêu là 300 triệu USD, quỹ TAFF2 dự định sẽ đầu tư vào các công ty trồng rừng thương mại được quản lý bền vững và mua lại các tài sản lâm nghiệp, bao gồm các đồn điền trồng trọt đã được khai thác hoặc đang bỏ hoang, phát triển rừng trồng mới và các cơ sở chế biến. Các công ty lâm nghiệp quan tâm có thể xuất trình chứng nhận của Hội đồng Quản lý rừng (FSC) đối với tài sản của họ.

Quỹ TAFF2 sẽ do Công ty TNHH New Forests Asia (Singapore) – đơn vị quản lý quỹ lâm nghiệp hàng đầu và giàu kinh nghiệm ở châu Á và Thái Bình Dương – quản lý. ADB sẽ làm việc về vấn đề năng lực và hệ thống quản lý xã hội và môi trường của New Forests Asia, ví dụ như sàng lọc đầu tư, đánh giá tác động và giám sát. ADB sẽ đưa ra hướng dẫn về những thông lệ hoạt động tốt nhất để thúc đẩy bình đẳng giới, bao gồm nâng cao kỹ năng cho các nữ công nhân đồn điền. ADB cũng sẽ giúp TAFF2 áp dụng lăng kính giới trong đầu tư thông qua thẻ điểm để nêu bật những lĩnh vực cần hành động nhằm cải thiện bình đẳng giới.  

Trong bối cảnh đó, Ông David Brand, Giám đốc điều hành của New Forests cũng nhận định: “Châu Á là trung tâm của công cuộc chuyển đổi kinh tế và bền vững diễn ra trong thế kỷ 21. Châu Á có vai trò quan trọng trong việc định hướng tăng trưởng của mình nhất quán với những kết quả phát triển bền vững, tác động tích cực tới khí hậu và tự nhiên. Chiến lược đầu tư của TAFF2 hướng tới rót vốn vào những hoạt động chuyển đổi này, sử dụng cơ cấu tài trợ hỗn hợp nhằm huy động nguồn vốn lớn hơn hướng tới các kết quả mang lại tác động xã hội và môi trường cao”.

Như vậy, các công ty lâm nghiệp bền vững ở Việt Nam, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Thái Lan sẽ có cơ hội nhận được vốn từ nguồn này để mở rộng quy mô hoạt động.

Nguồn: Theo ADB

Câu chuyện về cây Lùng, “ngân hàng tại nhà” của Việt Nam

Ở Nghệ An, dự án FLOURISH đang làm việc với chính quyền và doanh nghiệp địa phương giúp cộng đồng và đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số phục hồi và hưởng lợi từ rừng Lùng.

Khi chị Nông Thị Hường nói về ý nghĩa của cây Lùng đối với mình và cộng đồng dân tộc Thái ở miền núi phía Tây Nghệ An, chị đã kể một câu chuyện về sự chuyển đổi kinh tế, sinh thái và cá nhân.

Ở bản của chị, thu nhập đã tăng lên và đời sống của người dân được cải thiện – tất cả là nhờ những cách thức mới trong quản lý, sử dụng và kinh doanh Lùng.

Chị Hường cho biết: “Bất cứ khi nào cần tiền, tôi có thể thu hoạch và bán Lùng”. Giống như nhiều người khác trong cộng đồng của mình, chị Hường gọi rừng Lùng của mình là “một ngân hàng ngay tại nhà”.

Tuy nhiên, chỉ vài năm trước đây, rừng Lùng ở đây đã bị cạn kiệt nhanh chóng và có nguy cơ biến mất hoàn toàn. Thay đổi đang diễn ra thông qua một sáng kiến phục hồi cảnh quan rừng có tên là FLOURISH- Hưng thịnh. 

Sáng kiến FLOURISH đang giúp hàng trăm người dân như chị Hường thực hiện các bước phục hồi rừng Lùng, phát triển sinh kế bền vững và góp phần làm giảm tác động của biến đổi khí hậu. Cách làm việc với cộng đồng, chính quyền địa phương và khu vực tư nhân đang chỉ ra hướng đi để đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường ở quy mô cảnh quan. 

Nhiều thập kỷ cạn kiệt

Chị Hường sống tại bản Xẹt 1 xã Châu Thắng, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Từ bao đời nay, người dân Nghệ An sống dựa vào một loài tre có tên địa phương là cây Lùng (Bambusa longissima sp. Nov). Họ sử dụng sản phẩm từ Lùng như  vật liệu để sản xuất nhiều  sản phẩm – từ tăm xỉa răng đến hàng rào, giỏ và đèn lồng. Ngoài việc thu hoạch Lùng  để sử dụng cho nhu cầu gia đình, người dân cũng bán Lùng nguyên liệu. Đây là nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình ở miền núi Nghệ An, nơi có Lùng, đóng góp khoảng 14,2% tổng thu nhập trung bình hàng năm. 

Tuy nhiên,  vào giữa những năm 2010, việc khai thác quá mức đã tàn phá nguồn tài nguyên mà rất nhiều người sống phụ thuộc vào. Điều này không chỉ xảy ra ở bản của chị Hường mà còn ở các bản khác có Lùng thuộc các huyện Quỳ Châu và Quế Phong của tỉnh Nghệ An.

Chị Hường cho biết các thành viên trong cộng đồng thiếu kiến thức kỹ thuật về quản lý bền vững rừng Lùng . Chị nói: “Họ tận thu Lùng  bất kể tuổi và chất lượng,  không để lại bất kỳ cây Lùng mẹ nào để tạo ra cây con…” 

Chị Hường cho biết thêm, việc thiếu các biện pháp thực thi pháp luật với người khai thác Lùng trái phép và vị thế yếu của cộng đồng đối với người mua Lùng cũng góp phần làm cho rừng Lùng ở địa phương bị cạn kiệt nhanh chóng.

Cách tiếp cận mới

Để thử nghiệm các giải pháp cho những thách thức kể trên, sáng kiến ​​FLOURISH của RECOFTC bắt đầu áp dụng với bản của chị Hường và bốn bản khác ở gần đó vào năm 2019. 

Với sự tài trợ của chính phủ Đức thông qua Sáng kiến ​​Khí hậu Quốc tế (IKI), RECOFTC đã hợp tác với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Nghệ An và Tổ chức Mây Tre quốc tế (INBAR) giúp cộng đồng phục hồi rừng Lùng và sử dụng rừng Lùng cho sinh kế bền vững.

Dự án kéo dài 4 năm đã tập huấn cho hàng trăm người dân trong xã về kỹ thuật quản lý, thu hoạch, sơ chế Lùng và kỹ thuật nhân giống Lùng bằng phương pháp tách gốc để từng bước phục hồi rừng Lùng. Kỹ thuật này liên quan đến việc chọn một cụm gồm hai hoặc ba thân Lùng, đánh bầu và trồng lại ở nơi khác để tạo ra cây Lùng mới. 

Chị Hường nằm trong số những người được tập huấn kỹ thuật cùng với 15 thành viên khác trong cộng đồng. Chị đã thực hành nhân giống Lùng trên diện tích rộng 0,23 ha. Chị cho biết: “Kỹ thuật nhân giống Lùng rất dễ học và dễ áp ​​dụng, diện tích rừng Lùng mới của chúng tôi đã phát triển tốt, tỷ lệ sống đạt khoảng 90%”. 

Chị Nông Thị Hường cùng cộng đồng thu hoạch cây Lùng

“Sáng kiến​​ này đã hỗ trợ các hộ dân ở cả 5 bản gồm 84 nam và 37 nữ trong việc đàm phán và ký thỏa thuận hợp tác với Công ty TNHH Đức Phong có trụ sở tại Thành phố Vinh và các cơ sở tại các xã của huyện Quỳ Châu. Theo các thỏa thuận hợp tác này, công ty cam kết thu mua Lùng với giá thỏa thuận và số lượng lớn, đảm bảo đầu ra cho sản phẩm Lùng để tạo thu nhập cho các hộ”, chị Hường cho biết thêm. 

Công ty Đức Phong sử dụng Lùng làm chao đèn và giỏ xuất khẩu sang Châu Âu. Công ty phục vụ một thị trường quốc tế đang phát triển tiêu thụ các sản phẩm Lùng của Việt Nam, hiện trị giá hơn 300 triệu đô la Mỹ một năm. Ví dụ, xuất khẩu hàng mây tre đan sang Liên minh Châu Âu đã tăng 12,3% (link tiếng Anh) tính đến tháng 9 năm 2020, đạt 13,4 triệu đô la Mỹ. 

Đặc biệt, giao dịch này với thị trường Châu Âu thúc đẩy việc quản lý rừng Lùng một cách hợp lý nhờ các điều khoản về tính bền vững trong Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU năm 2019. Điều này giúp các cộng đồng như cộng đồng của chị Hường, những người đang khôi phục rừng Lùng, tham gia vào chuỗi cung ứng quốc tế. 

Ông Lương Văn Phi, Trưởng nhóm thu hoạch Lùng tại bản Ban, xã Châu Thắng, cho biết: “Các thỏa thuận hợp tác nhằm thúc đẩy sản xuất và kinh doanh Lùng bền vững bằng cách tăng cường sự hợp tác giữa cộng đồng địa phương và công ty Đức Phong, đồng thời thống nhất các điều khoản kinh doanh, hai bên cam kết cùng nhau quản lý và bảo vệ rừng Lùng để có thể khai thác bền vững.” 

Bảo đảm quyền

Để sinh kế thực sự bền vững và để người dân có động lực phục hồi rừng Lùng, họ cần được đảm bảo quyền đối với đất và rừng. 

Theo quy trình giao đất lâm nghiệp của Chính phủ, người dân có quyền đăng kí được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thời hạn từ 20 đến 50 năm đối với đất rừng. Nếu không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, người dân không thể trồng và khai thác Lùng một cách hợp pháp. Tuy nhiên, quy trình cấp phép không được các cộng đồng vùng sâu vùng xa và đặc biệt là các dân tộc thiểu số biết đến như người Thái ở các bản nơi RECOFTC đang triển khai dự án.  

Để giải quyết vấn đề này, sáng kiến FLOURISH đã đào tạo các thành viên cộng đồng về lập bản đồ rừng, xác định ranh giới và thủ tục đăng kí được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến cuối năm 2020, dự án đã giúp 241 hộ dân ở huyện Quế Phong và huyện Quỳ Châu đăng kí cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành công, trên tổng diện tích  hơn 1.550 ha.

Như chị Hường giải thích, đảm bảo quyền sử dụng đất và rừng sẽ khuyến khích việc phục hồi Lùng, do đó củng cố quyền của người dân. 

Chị nói: “Chính quyền địa phương phạt những người không bảo vệ đất rừng của họ, khi chúng tôi bảo vệ tốt rừng Lùng, họ không thể phạt chúng tôi hoặc tịch thu đất của chúng tôi. Chúng tôi phải bảo đảm các quyền của mình đối với đất đai của mình”.

Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Nghệ An, ông Phạm Bá Hùng nhấn mạnh các tác động môi trường của dự án. 

Ông Phạm Bá Hùng nói “Trước khi có dự án, đã có sự lãng phí lớn về tài nguyên. Chỉ có 50 đến 60% sản lượng thu hoạch được sử dụng trong chuỗi sản xuất. Hầu hết các phế phẩm tạo ra trong quá trình khai thác. Sau khi khai thác Lùng, người dân địa phương không phát quang. Phần không sử dụng sau khai thác này đôi khi có thể gây cháy rừng vào mùa khô và nấm bệnh đe dọa rừng Lùng vào mùa mưa. Vì khai thác quá mức, rừng Lùng không thể tái sinh đủ nhanh.” 

Ông Phạm Bá Hùng bổ sung “Bằng cách giới thiệu thành công kỹ thuật nhân giống Lùng và nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương, dự án đã giúp quản lý bền vững rừng Lùng. Điều này sẽ góp phần phục hồi cảnh quan rừng và bảo tồn tài nguyên đất và nước, ngoài ra cũng sẽ giúp giảm phát thải khí nhà kính trong dài hạn”.

Thay đổi cuộc sống

Chị Hường cho rằng bằng cách khôi phục rừng Lùng tại địa phương, cải thiện cách quản lý rừng, trao quyền và phát triển quan hệ đối tác với khu vực tư nhân, dự án đã cải thiện cuộc sống của người dân địa phương. 

Chị nói: “Dự án đã giúp cộng đồng của tôi bảo tồn Lùng và duy trì sinh kế của chúng tôi. Bây giờ chúng tôi biết cách thu hoạch Lùng và sau đó trồng lại rừng Lùng. Việc khai thác Lùng quá mức đã được chấm dứt và tỷ lệ khai thác Lùng trái phép đã giảm đáng kể so với trước khi có dự án. Chúng tôi đã được hưởng lợi từ hợp tác giữa các thành viên trong cộng đồng và công ty Đức Phong, công ty thu mua tất cả Lùng mà chúng tôi thu hoạch với giá ổn định”

Chị cũng cho biết thu nhập trung bình từ việc bán Lùng đã tăng gấp đôi lên 15 đến 17 triệu đồng mỗi năm, sau khi cộng đồng địa phương học hỏi và áp dụng thu hoạch bền vững và sơ chế nguyên liệu. 

Chị Hường bổ sung: “Tôi có thể nhận thấy cuộc sống của chúng tôi trở nên tốt đẹp hơn. Chúng tôi có đủ tiền học cho con, quà cho người thân và mua nhiều thực phẩm hơn, bao gồm cả thịt và sữa. Chúng tôi có nhiều thời gian hơn để làm những công việc bán thời gian khác.”

Chị Hường cũng cho biết dự án đã thúc đẩy quá trình trao quyền cho bản thân và người dân trong bản. 

Chị nói “Trước khi tham gia dự án, tôi biết rằng phụ nữ nên có sự độc lập về kinh tế, nhưng tôi không biết làm thế nào để đạt được điều đó. Các khóa tập huấn đã nâng cao nhận thức của tôi về sự độc lập của phụ nữ. Họ truyền cảm hứng để tôi thực hiện công việc kinh doanh riêng của mình có thể giúp ích cho các chị em của tôi”.

Nhưng chị Hường cho biết cần thêm sự hỗ trợ để đáp ứng sự quan tâm rộng rãi đến việc trồng rừng Lùng trong cộng đồng. 

Chị nói: “Mặc dù lợi ích rõ ràng nhưng nhiều hộ gia đình không đủ năng lực tài chính để thực hiện. Họ nói với tôi rằng họ chắc chắn sẽ áp dụng phương pháp này nếu có hỗ trợ tài chính.”

Chị cũng cho biết thêm rằng nhiều người cần tham gia các khóa tập huấn kỹ thuật để hiểu được tầm quan trọng của việc phục hồi Lùng và có động lực để bảo tồn Lùng. Chị Hường mong muốn sẽ có nhiều hộ nhận được tài trợ để trồng lại rừng Lùng trên đất rừng của họ. 

Chị Hường chia sẻ: “Tôi cảm thấy lạc quan về tương lai của chúng tôi”. 

###

Nguồn: RECOFTC

Phóng sự Kỷ nguyên phục hồi rừng – Từ quan điểm đến thực tiễn hành động

Thế giới đang chuyển mình để bước vào một thập kỉ mới với các cột mốc quan trọng về phục hồi hệ sinh thái.

Ngày 1/3/2019, Đại hội đồng Liên hợp quốc tuyên bố Thập kỷ về phục hồi hệ sinh thái là giai đoạn 2021 – 2030 nhằm nhân rộng trên quy mô lớn việc phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái và bị phá hủy để chống lại cuộc khủng hoảng khí hậu, tăng cường an ninh lương thực, nguồn nước và đa dạng sinh học.

Đến năm 2021, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc cũng đã lựa chọn chủ đề của Ngày Môi trường Thế giới (5/6) là “Phục hồi hệ sinh thái” nhằm tập hợp sự đoàn kết của các quốc gia cùng tham gia bảo vệ và hồi sinh các hệ sinh thái trên thế giới, vì lợi ích của con người và thiên nhiên. Đây cũng là sự kiện khởi động cho Thập kỷ Liên hợp quốc về phục hồi hệ sinh thái (2021-2030).

Hưởng ứng sự kiện trên, Việt Nam đã tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp dựa vào thiên nhiên, tiếp cận hệ sinh thái trong quá trình xây dựng các quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh; thành lập và quản lý hiệu quả các khu bảo tồn thiên nhiên; thúc đẩy thực hiện các mô hình bảo tồn và sử dụng bền vững.

Đối với Thừa Thiên Huế – một tỉnh nằm ở khu vực miền Trung của Việt Nam, là một trong những tỉnh có diện tích rừng lớn của cả nước với diện tích rừng đạt 288.401,82 ha (2020) và tỷ lệ che phủ là 57.38%. Trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 211.243,37 ha; rừng trồng là 77.158,45 ha (Quyết định số 439/QĐ-UBND).

Trong những năm gần đây, công tác quản lý, bảo vệ và phục hồi rừng trên địa bàn tỉnh đang được chú trọng và đã đạt được một số thành tựu nhất định, hướng đến phát triển lâm nghiệp bền vững, thân thiện với môi trường.

UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành nhiều chỉ thị và quyết định nhằm tăng cường công tác quản lý rừng, đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Điển hình là Quyết định 62/2019/QĐ-UBND ban hành Quy chế quản lý rừng cộng đồng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Quy chế nhằm gắn kết các quy định của Pháp luật Nhà nước về lâm nghiệp với Quy ước bảo vệ rừng của cộng đồng dân cư thôn bản, xác định rõ trách nhiệm của cộng đồng, các cấp chính quyền địa phương có thẩm quyền và các cơ quan liên quan trong việc hướng dẫn, kiểm tra, phối hợp với cộng đồng làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Quyết định số 1512/QĐ-UBND ngày 25/6/2019 quy định Quy chế phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng giữa Kiểm lâm và lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị đối với công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng.

Nắm bắt được các chủ trương phát triển lâm nghiệp của Tỉnh và xu thế chung của Thế giới, Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý Tài Nguyên (CORENARM) đã phối hợp với Trung tâm truyền hình Việt Nam khu vực Miền Trung – Tây Nguyên (VTV8) thực hiện phóng sự “KỶ NGUYÊN PHỤC HỒI RỪNG – TỪ QUAN ĐIỂM ĐẾN THỰC TIỄN HÀNH ĐỘNG CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN TẠI ĐỊA PHƯƠNG”  nhằm cho thấy được những khó khăn, thách thức trong việc duy trì và quản lý rừng bền vững ở các huyện miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế, cụ thể là Thôn 2, thôn 3 xã Hương Lộc, huyện Nam Đông và các thôn A Tia, Căn Tôm, Nhâm, Lê Triêng 1, Lê Triêng 2, huyện A Lưới; góp phần nâng cao nhận thức và tinh thần trách nhiệm của mỗi người dân trong công tác bảo vệ và quản lý rừng. Qua đó, giúp cộng đồng hiểu hơn về các hoạt động và thành quả đã đạt được của Trung tâm CORENARM trong những năm vừa qua đối với ngành Lâm nghiệp tỉnh nhà.

Chi tiết phóng sự vui lòng xem tại đây.

Nguồn: CORENARM

Corenarm tổ chức tập huấn sử dụng các ứng Qfield và Survey123 để thu thập thông tin hiện trường trên hệ thống Smatphone

Nhằm giúp các bạn sinh viên hiểu và nâng cao kĩ năng thu thập thông tin khảo sát hiện trường, Trung tâm Corenarm đã tổ chức tập huấn sử dụng các ứng dụng Qfield và Survey123. Các ứng dụng này sẽ giúp người khảo sát tiết kiệm thời gian, thu thập thông tin có chủ đích và chính xác.

Đây là cũng một trong những hoạt động để hỗ trợ sinh viên trong công tác khảo sát thông tin về các loài cây dược liệu nằm trong khuôn khổ Đề tài NCKH cấp tỉnh “Nghiên cứu giải pháp quy hoạch và phát triển tài nguyên dược liệu theo các tiểu vùng sinh thái khác nhau của tỉnh Thừa Thiên Huế” do ông Ngô Trí Dũng – Giám Đốc Trung tâm Corenarm làm chủ nhiệm đề tài.

Lớp tập huấn diễn ra trong 02 buổi (23 và 27/02/2022) với sự tham gia của 25 bạn sinh viên đến từ trường Đại học Khoa học Huế và trường Đại học Nông Lâm Huế, Ths. Trần Quốc Cảnh – Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Thừa Thiên Huế, thầy Nguyễn Quốc Sinh – Trường ĐH Nông lâm Huế, BS Lê Công Danh – Bệnh viện Y học Cổ truyền tỉnh Thừa Thiên Huế cùng các thành viên của trung tâm Corenarm.

Vào ngày 23/02/2022, dưới sự hướng dẫn của anh Trần Quốc Cảnh – Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và  Phát triển rừng tỉnh Thừa Thiên Huế, các bạn sinh viên đã cài đặt và thực hành thành thạo việc điều tra, gửi thông tin phiếu điều tra trên ứng dụng Qfield. Ứng dụng được tích hợp bảng hỏi, bản đồ online lẫn offline để thuận tiện cho người khảo sát trong quá trình di chuyển phỏng vấn và thu thập thông tin.

Anh Trần Quốc Cảnh đang hướng dẫn các bạn sinh viên sử dụng ứng dụng Qfield

Cùng với ứng dụng Qfield, chiều ngày 27/02/2022, anh Nguyễn Ngọc Anh Tuấn – Cán bộ kỹ thuật của Trung tâm Corenarm đã hướng dẫn các bạn sinh viên sử dụng ứng dụng Survey123 nhằm thu thập dữ liệu dựa trên bảng hỏi đã được tích hợp sẵn.

Các bạn sinh viên đang thực hành sử dụng ứng dụng Survey123

Song song với đó, các bạn cũng được Ông Ngô Trí Dũng – Giám đốc Trung tâm Corenarm giới thiệu về các loài cây dược liệu, chia sẻ những kinh nghiệm phỏng vấn hiện trường.

Kết thúc 02 buổi tập huấn, các bạn sinh viên đã được trang bị nội dung, kiến thức, kĩ năng và các thao tác về cách sử dụng 02 ứng dụng Qfield và Survey123, cách nhận diện các loài cây dược liệu cũng như những kinh nghiệm để cuộc phỏng vấn diễn ra một cách thoải mái và thu thập được nhiều thông tin hữu ích. Đây là cơ sở, bước đệm giúp cho các bạn có thêm kiến thức và tiếp cận với các công cụ hỗ trợ cho quá trình học tập, cũng như nâng cao một số kỹ năng trong quá trình học và làm việc sau này.

Nguồn: KieuOanh – CORENARM