Tổng quan hoạt động CORENARM năm 2021.

Có thể xem năm 2021 là một năm bản lề quan trọng trong chiến lược phát triển của Trung tâm NC&TV Quản lý Tài nguyên (CORENARM). Đánh dấu sự trở lại của CORENARM trong mạng lưới các tổ chức NGO theo các chương trình quốc gia như VPA/FLEGT, Mạng lưới bảo tồn tài nguyên TN do cộng đồng quản lý (OECM), các chương trình quốc tế đang triển khai ở Việt Nam như Quản lý rừng bền vững và Bảo tồn DDSH (VFBC) do USAID tài trợ.

Dựa trên 4 lĩnh vực phát triển chính (I) Phát triển sinh kế bền vững (II) Bảo tồn đa dạng sinh học (III) Bảo tồn đa dạng sinh học (IV) Bảo tồn đa dạng sinh học CORENARM tiếp tục thực hiện các hoạt động nghiên cứu và dịch vụ tư vấn bao gồm:

(I) Dự án FTViet – Đánh giá bản chất của hiện tượng “Chuyển tiếp rừng” ở Việt Nam: Dịch vụ hệ sinh thái và khả năng phục hồi của hệ sinh thái – xã hội ở những diện tích rừng do địa phương quản lý (2017-2023).

(II) Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp tỉnh – “Nghiên cứu giải pháp quy hoạch và phát triển tài nguyên dược liệu theo các tiểu vùng sinh thái của tỉnh Thừa Thiên Huế” (TTH.2020-KC.08).

(III) Dịch vụ tư vấn – Tư vấn hỗ trợ Quản lý Rừng bền vững và Chứng chỉ rừng.

Tất cả những hoạt động và kết quả đạt được trong năm 2021 đã được trình bày tóm tắt tại đây.

Định hướng xây dựng mô hình quản lý rừng cộng đồng hiệu quả

Nghiên cứu định hướng xây dựng mô hình quản trị rừng cộng đồng hiệu quả là một phần trong dự án “Tăng cường sự tham gia của Mạng lưới các Tổ chức Xã hội Dân sự Việt Nam ở khu vực miền Trung trong tiến trình đàm phán và thực thi Hiệp định VPA/FLEGT”.  Dựa trên thực tiễn quản lý rừng cộng đồng, nghiên cứu này được triển khai trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế với mục tiêu cụ thể là:(1) Hệ thống hóa các bài học kinh nghiệm liên quan đến quản trị rừng hiệu quả;(2) Tổng hợp và đề xuất các tiêu chí đánh giá mô hình quản trị rừng hiệu quả; (3) Phân tích các động lực và trở ngại liên quan đến quản trị rừng hiệu quả ở điểm nghiên cứu; (4) Đề xuất các định hướng xây dựng mô hình quản trị rừng cộng đồng hiệu quả. Quý đọc giả quan tâm có thể đọc chi tiết tại đây.

Tổng quan hoạt động FTViet 2019

Dự án Đánh giá bản chất của hiện tượng “chuyển tiếp rừng” ở Việt Nam: Dịch vụ hệ sinh thái và khả năng phục hồi của hệ sinh thái – xã hội ở những diện tích rừng do địa phương quản lý (viết tắt: Dự án FTViet) được triển khai tại huyện A Lưới và huyện Nam Đông của tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian 6 năm, và chia làm 2 giai đoạn, trong đó giai đoạn 1 từ 01/9/2017 đến 31/8/2020.

Dựa trên mục tiêu tổng quát là “Cung cấp kết quả nghiên cứu chuyên sâu nhằm giải thích hiện tượng “chuyển tiếp rừng” và tìm ra các nguyên nhân sâu xa thúc đẩy hiện tượng này. Từ đó có các khuyến nghị phù hợp về chính sách, triển khai và nhân rộng các sáng kiến sinh kế nhằm hỗ trợ quá trình chuyển tiếp mang tính bền vững”.

Trong năm 2019, các thành viên thuộc Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Tài nguyên phối hợp với các thành viên khác trong dự án FTViet đã nổ lực hoạt động nghiên cứu và đã đạt được những thành quả nhất định. Tất cả những hoạt động của dự án trong năm 2019 được tóm tắt trong Brochure. Quý đọc giả quan tâm có thể tìm hiểu rõ hơn về các hoạt động tại đây.

Để biết thêm thông tin về dự án FTviet, các bạn đọc có thể tìm hiểu tại đây.

Tổng quan hoạt động FTViet 2018

Dự án FTviet là dự án “Đánh giá bản chất của hiện tượng “chuyển tiếp rừng” ở Việt Nam: Dịch vụ hệ sinh thái và khả năng phục hồi của hệ sinh thái – xã hội ở những diện tích rừng do địa phương quản lý”.

Dự án có 04 hợp phần chính, bao gồm: (i) Hợp phần nghiên cứu Sinh thái; (ii) Hợp phần nghiên cứu Kinh tế – Xã hội; (iii) Hợp phần Nâng cao năng lực; (iv) Hợp phần Thúc đẩy chính sách.

Trong năm 2018, các thành viên tham gia dự án FTviet đã tập trung thực hiện những hoạt động liên quan đến 4 hợp phần chính trên. Tất cả những hoạt động và kết quả đạt được đã được trình bày tóm tắt trong brochure. Quý đọc giả quan tâm có thể tìm hiểu tại đây.

CORENARM TRONG HỘI THẢO “QUẢN LÝ RỪNG TỰ NHIÊN DỰA TRÊN QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN”

CỘNG ĐỒNG THAM GIA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG: KINH NGHIỆM TỪ CÁC DỰ ÁN CỦA TRUNG TÂM CORENARM TRIỂN KHAI Ở THỪA THIÊN HUẾ

TS. Ngô Trí Dũng & ThS. Bùi Phước Chương – Trung tâm CORENARM, Huế

Quyền của người dân trong các chương trình giao rừng và hỗ trợ sau giao rừng cho cộng đồng địa phương

1. Giao rừng tự nhiên là bước cơ bản nhất nhằm thể hiện việc trao quyền sở hữu tư liệu sản xuất (quyền sử dụng rừng) cho người dân

Chính sách giao rừng tự nhiên cho cộng đồng địa phương quản lý được thực hiện ở Việt Nam từ thập niên 90. Ở Thừa Thiên Huế, chính sách này được triển khai đầu tiên ở huyện Phú Lộc với các mô hình thí điểm giao rừng cho cộng đồng các thôn bắt đầu từ năm 2000. Sau đó lần lượt các huyện khác như Nam Đông (hỗ trợ của SNV, GCP, ETSP), huyện Phong Điền (hỗ trợ của TTH-RDP), huyện A Lưới (hỗ trợ của ETSP, SNV, GCP). Hình thức giao rừng tự nhiên ở Thừa Thiên Huế khá đa dạng: giao cho hộ gia đình, nhóm hộ, và thôn (Hồ Hỷ 2007). Đến nay vẫn chưa có tổng kết chính thức và lý giải về tính đa dạng và hiệu quả của các chủ thể nhận rừng nêu trên.

Trung tâm CORENARM triển khai cách tiếp cận giao rừng tự nhiên cho cộng đồng thôn thông qua kinh nghiệm từ các dự án SMNR-CV (GTZ Quảng Bình), ETSP (Helvetas Thừa Thiên Huế) và các khóa tập huấn bởi các chuyên gia trong và ngoài nước. Trình tự các bước giao rừng tự nhiên cho cộng đồng thôn được thực hiện theo thông tư 38/2007 của Bộ NN&PTNT. Cách tiếp cận này có ưu điểm: lồng ghép trong quy hoạch sử đụng đất của huyện nên mang tầm nhìn lâu dài ổn định; hỗ trợ mạnh về kỹ thuật điều tra tư liệu hóa tình trạng rừng giúp giám sát, đánh giá tăng trưởng trong tương lai; các bước khảo sát đánh giá được thiết kế có sự tham gia của đầy đủ các bên tham gia: người dân – nhà nghiên cứu – tổ chức phát triển (CORENARM) – cơ quan chuyên môn cấp huyện.

Trong dự án ‘Xây dựng hệ thống sử dụng đất bền vững’, CORENARM đã hỗ trợ phòng Nông nghiệp huyện giao gần 800 ha rừng tự nhiên cho 102 hộ gia đình ở 4 thôn thuộc xã Hương Phú. Toàn bộ các nhóm hộ nhận rừng (9 nhóm) đều được tập huấn và triển khai theo 03 hợp phần: (i) khảo sát quy hoạch giao rừng; (ii) lập kế hoạch quản lý rừng; (iii) xây dựng các mô hình sinh kế bền vững. Sau khi có quyết định giao rừng của UBND huyện, có 3 nhóm được dự án hỗ trợ kinh phí lập quỹ phát triển cộng đồng để thực hiện các sáng kiến sinh kế làm mô hình thí điểm cho các nhóm còn lại.

2. Quyền lựa chọn và yêu cầu hỗ trợ xây dựng các mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện địa phương là điều kiện tiên quyết giúp người dân ổn định đời sống và là động lực chính thúc đẩy người dân quyết tâm bảo vệ hiệu quả diện tích rừng giao

Một trong những hạn chế của các chương trình giao rừng tự nhiên đó là thiếu các giải pháp sinh kế ngắn-trung hạn hỗ trợ người dân trong thời gian đầu khi thu nhập từ diện tích rừng giao chưa đáp ứng các khoản chi trả cho các hoạt động quản lý bảo vệ. Đặc biệt, hầu hết các diện tích rừng giao cho cộng đồng là rừng nghèo kiệt nên hoặc là (i) không được phép tiếp tục khai thác theo quy định giao rừng hoặc (ii) sản phẩm không có giá trị kinh tế trên thị trường. Nhận dạng vấn đề này, CORENARM đã tích cực tìm kiếm và chuyển giao các mô hình sinh kế hỗ trợ nguồn thu ngắn – trung hạn thông qua dự án ‘Xây dựng các mô hình sinh kế hỗ trợ sau giao rừng ‘ (2006-2008) và áp dụng các mô hình này trong dự án ‘Xây dựng hệ thống sử dụng đất bền vững ở xã Hương Phú’ (2008-2010). Các mô hình thành công và đang nhân rộng ở địa bàn huyện Nam Đông của CORENARM bao gồm (i) mô hình phục hồi mây dưới tán rừng tự nhiên, (ii) mô hình tre lấy măng và lồ ô ven khe suối, (iii) mô hình vườn ươm cây bản địa phục vụ các chương trình trồng rừng, (iv) nuôi ong mật, (v) nuôi nhím bờm. Đến nay, các mô hình đã cho kết quả khả quan và bước đầu mang lại nguồn thu cho các nhóm nhận rừng (mây, tre, lồ ô, ong mật).

Việc lựa chọn và thiết kế các mô hình đều do người dân khởi xướng với sự tư vấn kỹ thuật của Trạm KNLN, CORENARM (thông qua cách tiếp cận ‘Phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực’ ABCD) hỗ trợ tài chính của các dự án do Trung tâm kêu gọi. Do vậy, mức độ cam kết và kinh nghiệm quản lý các mô hình của người dân được nâng cao so với các chương trình hỗ trợ sinh kế trước đây do nhà nước tài trợ.

3. Xây dựng tổ chức – thể chế cộng đồng ổn định nhằm đảm bảo quyền quyết định của người dân trong các hoạt động quản lý và sử dụng tài nguyên của cộng đồng

Bất kỳ một hoạt động hỗ trợ nguồn lực (kỹ thuật, tài chính, nhân sự) nào từ bên ngoài tổ chức cộng đồng đều chỉ mang tính ‘kích hoạt’ bước đầu và sẽ kết thúc sau một vài năm hỗ trợ. Do vậy Trung tâm luôn nhấn mạnh hợp phần ‘xây dựng nội lực cộng đồng’ trong tất cả các chương trình, dự án hỗ trợ. Trung tâm đã áp dụng thành công 03 gói công cụ hỗ trợ trong tiến trình này bao gồm PRA, ABCD, và IAD. PRA được áp dụng nhằm khảo sát thu thập các thông tin về các nguồn tài nguyên tự nhiên hiện có ở địa phương, thông tin về cộng đồng dân cư đang sinh sống, và các luật tục, quy định truyền thống áp dụng trong quản lý sử dụng tài nguyên. ABCD nhằm kích thích người dân rà soát các nguồn lực của cộng đồng, từ đó đề xuất cách quản lý hiệu quả các nguồn tài nguyên với chi phí thấp nhất. IAD (Institutional Analysis and Development) được áp dụng để phân tích các mối tương quan giữa tài nguyên – cộng đồng – thể chế nhằm tìm ra mô hình bền vững đặc thù cho từng địa phương.

Áp dụng các công cụ lý thuyết và thực tiễn nêu trên, đến nay Trung tâm đã xây dựng thành công 4 mô hình cộng đồng thôn quản lý rừng bền vững và đang áp dụng cho 9 mô hình khác trên địa bàn huyện Nam Đông. Tùy thuộc vào nguyện vọng của người dân và đặc thù của tài nguyên rừng giao mà chủ thể nhận rừng có thể là nhóm hộ gia đình hoặc cộng đồng thôn. Tuy nhiên các mô hình đều có chung các đặc điểm là (i) được thành lập và có tư cách pháp nhân (do UBND xã xác nhận) độc lập; (ii) được tổ chức, tập huấn các kỹ năng cần thiết về quản lý và sử dụng tài nguyên theo hướng bền vững; và (iii) được hỗ trợ tài chính ban đầu (quỹ), và cách huy động nguồn lực cho các hoạt động tiếp theo. Đặc biệt, có 03 mô hình được thành lập theo cách tương hỗ giữa các hộ người Kinh và các hộ người dân Katu (thôn Phú Mậu) và đang hoạt động rất hiệu quả. Các mô hình này sẽ được theo dõi và đánh giá định kỳ trong các năm tiếp theo.

 Thảo luận và bài học kinh nghiệm

  1. Phương pháp luận trong quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng

Như đã đề cập ở trên, cách tiếp cận quản lý tài nguyên của CORENARM tập trung vào các hoạt động thúc đẩy tiến trình trao quyền sở hữu/sử dụng tài nguyên, hỗ trợ sinh kế, và thiết lập thể chế cộng đồng. Đây là các đặc trưng chủ yếu của một mô hình quản lý tài nguyên bền vững đã được đúc kết từ những nghiên cứu lý thuyết (Ostrom 1994, DFID 2001, CIFOR 2007, RRI 2009). Mặc dù chỉ mới thực hiện và đang theo dõi các mô hình này từ năm 2007, hiện tại Trung tâm đã có đầy đủ các dữ liệu liên quan từ các dự án/chương trình đã triển khai thực tế. Trong khi chờ đợi một nghiên cứu phân tích kỹ lưỡng các mô hình trên trong năm tới, Trung tâm có một số nhận xét ban đầu như sau:

  • Khái niệm ‘cộng đồng’ cần được làm rõ ngay từ bước đầu, trước khi quyết định giao quyền sử dụng tài nguyên. Trong khái niệm này, nhóm hộ, thôn, câu lạc bộ… cần được khảo sát kỹ lưỡng tránh tình trạng chạy ‘hợp thức hóa’ các yêu cầu của dự án hoặc ‘đại diện ảo’ của một nhóm quyền lực ở cộng đồng. Nếu không phát hiện được các đặc trưng cơ bản của một cộng đồng thực thụ thì rất dễ dẫn đến tình trạng độc quyền trong sử dụng tài nguyên hoặc lạm quyền theo hướng phục vụ lợi ích của một nhóm thiểu số.
  • Người dân cần có đầy đủ các thông tin trước khi được mời cho ý kiến hoặc ra quyết định về một vấn đề liên quan đến lợi ích chung của cộng đồng. Tình trạng thiếu thông tin về trữ lượng, loại rừng, quy định khai thác sử dụng, cơ chế phân chia nguồn lợi. đã làm cho nhiều cộng đồng (thôn, nhóm) nhận rừng không nắm bắt đầy đủ các quyền và cách tiếp cận quản lý khoa học, phù hợp với quy định của pháp luật. Mặt khác, thiếu thông tin về tài nguyên, chính sách sử dụng đã làm cộng đồng ‘yếu thế’ trong phát huy các nguồn nội lực, dẫn đến tổ chức lỏng lẻo, hiệu quả các hoạt động thấp, và chỉ còn tồn tại về mặt hình thức.
  • Qua tiếp cận điều hành các dự án, chúng tôi nhận thấy các cộng đồng nhận rừng chưa ý thức được giá trị và cơ hội sử dụng các nguồn tài nguyên mà cộng đồng được giao hoặc đang sở hữu. Đây chính là một ‘lỗ hổng’ lớn về xây dựng năng lực cộng đồng tự quản lý bởi nó tạo ra tính ‘ỷ lại’ của người dân, luôn trông chờ vào nguồn lực bên ngoài (vốn hạn chế và không bền vững). Ví dụ rõ nhất là ở dự án IUCN do Trung tâm điều phối, CLB khuyến nông Phú Mậu trước đây được giao quản lý hơn 40ha rừng tự nhiên nhưng chỉ tập trung vào luỗng phát và tuần tra bảo vệ. Sau khi được tư vấn kỹ thuật và kinh phí phục hồi và chăm sóc nguồn giống Mây, đến nay nguồn thu đã tăng trội và tiếp tục duy trì ổn định thông qua quy hoạch thành vườn mây giống.
  • Các hoạt động ở hợp phần thứ ba về ‘thiết lập thể chế cộng đồng’ có liên quan mật thiết với việc định nghĩa cộng đồng đã nêu trên. Thiết lập thể chế cộng đồng là các hoạt động từ việc thành lập nhóm nhận rừng, câu lạc bộ, nhóm sở thích gọi chung là ‘tổ hợp tác’ (theo Nghị định 151/2007/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác) đến việc ban hành các quy chế hoạt động, điều hành quỹ của nhóm, và kêu gọi – quản lý các nguồn lực hỗ trợ. Thông thường, các nhóm mới thành lập cần được hỗ trợ mạnh ở các khâu này thông qua tư vấn từ tổ chức NGO hoặc đơn vị chuyên môn cấp huyện.

2. Phối hợp hỗ trợ trong quản lý tài nguyên và phát triển nông thôn

Một trong những thành công ban đầu của Trung tâm CORENARM được các cơ quan nhà nước và tổ chức tài trợ đánh giá cao đó là vai trò kết nối được 3 ‘nhà’ trong quản lý tài nguyên và phát triển cộng đồng: người dân – cơ quan nhà nước – tổ chức nghiên cứu – tổ chức phát triển (NGO). Sự tham gia bình đẳng trong quản lý và thực thi chương trình được xuyên suốt trong các bước từ lập dự án, phân công xây dựng các hợp phần, thực thi các hoạt động, và chia sẻ kinh nghiệm quản lý, thực thi. Ở dự án IUCN, Trung tâm đã kêu gọi 03 đối tác chính cùng tham gia tư vấn kỹ thuật và thể chế là Phòng NN&PTNT, Trạm KNLN, và Bộ môn QLNTR&MT của ĐH Nông Lâm Huế. Các đơn vị này có thế mạnh về chuyên môn, tổ chức quản lý, hỗ trợ thể chế trong tiến trình giao rừng và xây dựng năng lực cho cộng đồng. Đặc biệt, các hợp phần dự án đang được các đối tác tư liệu hóa đầy đủ nhằm chia sẻ kinh nghiệm cho các chương trình tương tự.

3. Một số định hướng tiếp theo

Đánh giá và tư liệu hóa cách tiếp cận hiệu quả trong quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng: Gần 4 năm thực hiện các dự án về quản lý tài nguyên, hỗ trợ sinh kế cho người dân vùng cao đã mang lại cho Trung tâm nhiều kinh nghiệm bổ ích trong hoạt động tư vấn các mô hình kỹ thuật, sinh kế, tổ chức cộng đồng ở địa bàn 02 tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam. Các mô hình này đang được tư liệu hóa và sẽ đánh giá hiệu quả hoạt động theo định kỳ 3-5 năm hoạt động nhằm rút ra được các kinh nghiệm quản lý, thực thi các hoạt động ở cộng đồng

Đến nay, các dự án hỗ trợ cồng đồng trong quản lý sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên đã khẳng định được mức độ thành công nhất định về phương diện hỗ trợ kỹ thuật, tài chính, và tổ chức quản lý. Tuy nhiên, sự hỗ trợ về mặt thực thi pháp luật đối với các cộng đồng nhận rừng dường như lại chưa theo kịp với các hỗ trợ về kỹ thuật, tài chính, tổ chức thực thi. Các cộng đồng nhận rừng ở Nam Đông vẫn phàn nàn về thiếu vắng sự hỗ trợ thực thi pháp luật từ các cơ quan nhà nước (Hạt Kiểm lâm, UBND Xã, Phòng TN&MT, Phòng NN&PTNT) sau khi nhận rừng. Trung tâm đang lập kế hoạch khảo sát mức độ yêu cầu hỗ trợ việc thực thi pháp luật lâm nghiệp của các cộng đồng nhận rừng nhằm xúc tiến các hoạt động tư vấn, kết nối hỗ trợ thực thi pháp luật, duy trì bền vững các sáng kiến giao rừng đã thực thi trong các năm qua.

Triển khai từ năm 2000, các mô hình giao rừng tự nhiên cho cộng đồng ở Thừa Thiên Huế đã trải qua hơn 10 năm thực thi. Tuy nhiên vẫn chưa có các báo cáo đánh giá hiệu quả hoạt động ở các mô hình về các phương diện tăng trưởng rừng, cơ chế huy động tài chính hỗ trợ sau giao rừng, tổ chức hoạt động của nhóm nhận rừng, hỗ trợ thực thi pháp luật lâm nghiệp cho cộng đồng nhận rừng. Trong năm 2011, Trung tâm sẽ tổ chức đánh giá lần lượt các mô hình này và trình bày kết quả trong một Hội thảo cấp tỉnh nhằm đúc rút các kinh nghiệm thực tiễn trong quản lý rừng cộng đồng.

Xem thêm bài viết của Trung tâm Phát triển Sáng kiến Cộng đồng và Môi trường về hội thảo tại đây

CORENARM – Một năm 2021 nhìn lại và hướng đi mới trong năm 2022

Có thể xem năm 2021 là một năm bản lề quan trọng trong chiến lược phát triển của Trung tâm NC&TV Quản lý Tài nguyên (CORENARM). Nhiều định hướng mới đã được thử nghiệm thành công để từ đó mở ra hướng đi mới trong các năm tiếp theo.

Về góc độ nghiên cứu và hợp tác quốc tế, đây là năm thứ 5 trong triển khai dự án “Nghiên cứu hiện tượng Chuyển tiếp rừng ở Việt Nam (FTViet)” hợp tác giữa 03 đơn vị: Đại học Lausanne (UNIL) – Thụy Sĩ, Đại học Nông Lâm Huế (HUAF) và Trung tâm CORENARM. Trong năm đã triển khai và hoàn tất hợp phần công bố nghiên cứu quốc tế (02 bài); khảo sát dữ liệu rừng trồng, rừng tự nhiên; hỗ trợ các công đồng  trong xây dựng Phương án và Kế hoạch quản lý rừng cộng đồng bền vững, tại 02 huyện miền núi A Lưới và Nam Đông; hỗ trợ các đề tài nghiên cứu cho sinh viên MSc và BSc (Xem chi tiết hoạt động FTViet ở đây). Một trong những thành tựu quan trọng là 01 nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ trong chương trình FTViet, đó là Dr. Nguyễn Thị Hải Vân với đề tài “The politics of forest transition in contemporary upland Vietnam: Case study in A Luoi, Thua Thien Hue province” vào ngày 03.12.2021.

Thu thập dữ liệu khí tượng thủy văn tại các lưu vực trên địa bàn nghiên cứu dự án FTViet huyện A Lưới, tỉnh TT Huế.

Ở quy mô mở rộng hoạt động nghiên cứu trong nước, Trung tâm CORENARM đã được phê duyệt triển khai đề tài khoa học công nghệ cấp tỉnh “Nghiên cứu giải pháp quy hoạch và phát triển tài nguyên dược liệu theo các tiểu vùng sinh thái của tỉnh Thừa Thiên Huế” (TTH.2020-KC.08). Đề tài được thực hiện với 02 mục tiêu (1) Đánh giá được thực trạng tài nguyên dược liệu theo các tiểu vùng sinh thái khác nhau trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, và (2) Đề xuất quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu tài nguyên cây thuốc cho các tiểu vùng sinh thái dựa trên dẫn liệu phân bố tự nhiên và tập quán sử dụng; Thời gian triển khai từ tháng 9/2021 – 3/2023 (Xem chi tiết hoạt động đề tài ở đây) . Đây là đề tài KHCN đầu tiên kể từ ngày thành lập Trung tâm đến nay, và do vậy mở ra hướng đi mới về áp dụng KHCN triển khai các mô hình, ý tưởng liên quan đến quản lý và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên tự nhiên không chỉ ở Thừa Thiên Huế mà có thể triển khai rộng khắp ở các tỉnh khác trên cả nước..

TS. Hồ Thắng – Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ phát biểu trong hội nghị Giao trực tiếp Đề tài cho đơn vị chủ trì Đề tài Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý Tài nguyên .

Ngoài ra,  liên quan đến hoạt động nghiên cứu, Trung tâm CORENARM còn là đơn vị kết nối và hỗ trợ các nghiên cứu viên trong nước và quốc tế trong việc triển khai các đề tài trong nước nói chung và tại tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng.

Trên lĩnh vực tư vấn, CORENARM đã bước đầu triển khai các gói tư vấn hỗ trợ Quản lý Rừng bền vững và Chứng chỉ rừng. Sau các khóa tập huấn/đào tạo ngắn hạn hỗ trợ cho các Doanh nghiệp như Công ty Thúy Sơn (Cần Thơ), Công ty Bảo Châu Phú Yên (Phú Yên), năm 2021 đánh dấu các hợp đồng tư vấn trọn gói trong quá trình triển khai hỗ trợ xây dựng hệ thống chứng chỉ QLRBV ở các doanh  nghiệp như Thúy Sơn-Cà Mau (3/2021), Công ty BVN Thanh Chương (6/2021), Công ty Ngọc Sơn-Thanh Hóa (9/2021). Hiện tại, Công ty BVN Thanh Chương đã được cấp chứng chỉ FSC/FM thành công cho nhóm hơn 600 hộ gia đình với diện tích gần 4000 ha ở địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Các hoạt động triển khai tiếp theo bao gồm mở rộng diện tích cấp chứng chỉ, tập huấn nâng cao năng lực quản lý nhóm, và rà soát cập nhật bổ sung hệ thống bản đồ và các thông tin chuyên đề. (Xem chi tiết các hoạt động tư vấn ở đây).

Tập thể BVN cùng CORENARM và Đoàn đánh giá GFA.

Năm 2021 cũng đánh dấu sự trở lại của CORENARM trong mạng lưới các tổ chức NGO theo các chương trình quốc gia như VPA/FLEGT, Mạng lưới bảo tồn tài nguyên TN do cộng đồng quản lý (OECM), các chương trình quốc tế đang triển khai ở Việt Nam như Quản lý rừng bền vững và Bảo tồn DDSH (VFBC) do USAID tài trợ. Các hợp phần liên quan và tiềm năng mà CORENARM bước đầu tiếp cận bao gồm: 1. Cải thiện và mở rộng mô hình quản lý rừng cộng đồng; và 2. Cải tiến các thực hành quản lý rừng sản xuất, trong đó chú trọng kết nối Doanh nghiệp tham gia vào tiến trình quản lý rừng bền vững và xuất khẩu sản phẩm gỗ có chứng chỉ.

CORENARM đón chào năm 2022 với đội ngũ thành viên chuyên nghiệp – nhiệt huyết – cống hiến cho tiến trình quản trị tài nguyên thiên nhiên bền vững ở Việt Nam!

Nguồn: CORENARM

Cuộc thi phim phóng sự về “SOUTHERN VOICES FROM GLOBAL SOUTH”

Ngày nay, có nhiều bằng chứng khoa học tự nhiên và xã hội về hành tinh của chúng ta. Tuy nhiên, việc điều khiển sự thay đổi theo đúng hướng tại địa phương, khu vực và toàn cầu vẫn là một thách thức lớn. Sự hiểu biết của cộng đồng về những chuyển đổi phát triển rộng lớn của tự nhiên và xã hội vẫn còn hạn chế. Bằng chứng khoa học vẫn khó nắm bắt, làm thế nào để có thể lòng ghép các bằng chứng khoa học vào các chính sách là điều cần thiết để định hình hiện tại và tương lai của chúng ta. 

The Global Development Network (GDN) đã hợp tác với The Agence Française de Developpement (AFD) để thực hiện một cuộc thi phim phóng sự trực tuyến về các chuyển đổi phát triển quan trọng đang diễn ra trên toàn cầu. Các phóng sự sẽ kể câu chuyện về những quá trình chuyển đổi này qua cách nhìn của các nhà nghiên cứu trẻ đang làm việc tại các quốc gia ở Châu Á, Châu Mỹ Latinh, Châu Phi, Đông Âu và Trung Đông cho phép khán giả toàn cầu tìm hiểu về những thách thức và thành công của họ. Các video sẽ liên kết kiến ​​thức và quan điểm sâu sắc của địa phương với bài diễn thuyết của các nhà nghiên cứu về sự phát triển toàn cầu thông qua nhiều chủ đề như khí hậu, năng lượng, giới, quản trị,…

CORENARM đã tham gia cuộc thi với nội dung phim phóng sự là How local communities can make forests resilient? Nội dung và tư liệu phim nằm trong các hoạt động của dự án r4d Đánh giá ‘Bản chất’ của hiện tượng ‘Chuyển tiếp rừng’ ở Việt Nam: Dịch vụ hệ sinh thái và khả năng phục hồi của sinh thái  xã hội ở những diện tích rừng do địa phương quản lý (FTViet). Kết quả CORENARM đã lọt vào vòng bán kết cuộc thi Phim phóng sự về ”Southern Voices from Global South” vào tháng 7.2021 (Xem chi tiết ở đây).

Bản quyền: Phim phóng sự thuộc bản quyền của Trung tâm Tư vấn và Nghiên cứu về Quản lý Tài nguyên, Việt Nam/ Biên tập và sản xuất bởi cán bộ truyền thông CORENARM.

Các thay đổi định hướng về rừng ở Miền Trung Việt Nam

Hình ảnh Vườn Quốc Gia Bạch Mã trong thư viện ảnh.

Cảnh quan rừng ở miền Trung Việt Nam và sinh kế của các nhóm dân tộc thiểu số đang có những thay đổi sâu sắc. Bộ sưu tập ảnh này ghi lại một số biến đổi gần đây xảy ra trên lĩnh vực đất đai, rừng và cuộc sống của người dân. Mất rừng tự nhiên, mở rộng rừng trồng loài ngoại lai và sự xâm nhập của các mô hình sinh kế mới có tác động sâu rộng đến tương lai.

Tác giả và nhiếp ảnh gia: Christian Kull 

Các bức ảnh trong bộ sưu tập này được chụp trong bốn chuyến thăm thực địa từ năm 2016 đến năm 2019 để khởi xướng, phối hợp và thực hiện dự án với sự cộng tác đầy đủ của nhóm nghiên cứu. Đông Nam Á vẫn là một điểm nóng về nạn phá rừng. Tại Việt Nam, độ che phủ của rừng ngày càng tăng nhưng bản chất của cái gọi là “quá trình chuyển tiếp rừng” vẫn chưa được biết đến nhiều. Hầu hết loài cây được trồng là các loài keo với chu kỳ sinh trưởng phát triển ngắn; khu rừng bị dây leo xâm lấn hạn chế khả năng tái sinh rừng tự nhiên. Các chính sách của chính phủ nhằm tìm kiếm sự thúc đẩy tốt hơn đối với việc bảo vệ rừng cũng như nền kinh tế gỗ. Dự án nghiên cứu trạng thái này từ cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, với sự tập trung đặc biệt vào các khu rừng được quản lý sử dụng bởi cộng đồng sống gần rừng.

Thư viện ảnh này đã được gửi trong cuộc gọi r4d cho các thư viện ảnh vào tháng 6 năm 2019 và được lựa chọn để xuất bản bởi một ban giám khảo quốc tế. Đóng góp này xuất phát từ dự án r4d Đánh giá ‘Bản chất’ của hiện tượng ‘Chuyển tiếp rừng’ ở Việt Nam: Dịch vụ hệ sinh thái và khả năng phục hồi của sinh thái xã hội ở những diện tích rừng do địa phương quản lý (FTViet), được tài trợ bởi chương trình r4d.

Một số hình ảnh trong Thư viện ảnh:

Một phần thung lũng dọc theo đường  Hồ Chí Minh là vùng đất dày đặc với những cây dây leo merremia mọc um tùm. Nó minh họa một loạt chuyển đổi khác: việc từ bỏ du canh du cư sau khi dân làng buộc phải tái định cư ở nơi khác vào những năm 1990 và việc tuyên bố thung lũng là một phần của Khu bảo tồn thiên nhiên Sao La vào năm 2013.

Các đối tác của dự án là Trần Nam Thắng và Ngô Trí Dũng thảo luận về việc khoanh nuôi rừng ở Huyện A Lưới với cán bộ kiểm lâm huyện A Lưới. Đây là một trong ba huyện có nhiều rừng của tỉnh TT Huế. Nó tiếp giáp với Lào và được chia cắt bởi đường Hồ Chí Minh.

Tương lai của những khu rừng tự nhiên và rừng trồng đang chuyển đổi nhanh chóng này là chủ đề của cuộc “đối thoại về rừng” cấp huyện do dự án FTViet tổ chức vào tháng 4 năm 2019. Đại diện của các tổ chức sở hữu rừng, cơ quan chính quyền cấp huyện và cấp xã đã thảo luận về các kịch bản, tầm nhìn và những thách thức cho tương lai. 

Mời quý đọc giả xem toàn bộ Thư viện ảnh tại đây.

Định hình một tương lai bền vững cho những cánh rừng ở thung lũng A Lưới

Cán bộ FTViet đến thăm rừng cao su ở thung lũng A Lưới

Rừng trồng thuần loài keo và cao su đã làm thay đổi cảnh quan và sinh kế của huyện A Lưới. Dự án Nghiên cứu hiện tượng chuyển tiếp rừng đã thúc đẩy những cuộc đối thoại nhiều bên liên quan nhằm tìm kiếm các giải pháp cho một tương lai bền vững của khu vực biên giới này.  

Những khu Rừng thường xanh nguyên sinh có vai trò quan trọng đối với việc cân bằng khí hậu, giúp hạn chế xói mòn và lũ lụt ở các vùng đất thấp của Việt Nam. Làm thế nào để người dân ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế quản lý đất rừng của họ trong thời kỳ biến đổi khí hậu gia tăng và nhu cầu sinh kế của họ là gì? Dự án Đánh giá ‘Bản chất’ của hiện tượng ‘Chuyển tiếp rừng’ ở Việt Nam: Dịch vụ hệ sinh thái và khả năng phục hồi của sinh thái  xã hội ở những diện tích rừng do địa phương quản lý (FTVietđược thực hiện nhằm phân tích những thách thức cụ thể của cộng đồng địa phương. 

Huyện A Lưới mang vết tích của chiến tranh và hứng chịu nhiều hậu quả do chiến thuật sử dụng thuốc diệt cỏ do chiến tranh để lại. Ngày nay, A Lưới lại phải đối mặt với những thách thức về phá rừng, tái trồng rừng và tranh giành tài nguyên giữa các bên liên quan. Các rừng trồng thuần loài keo và cao su đang nhanh chóng thay thế sinh kế tự cung tự cấp trước đây. Dự án FTViet sắp xếp như một phần của quá trình nghiên cứu đối thoại giữa các bên liên quan khác nhau để kết nối bằng chứng khoa học với các kiến ​​thức đặc thù của địa phương. 

Phim  này là được sản xuất như  là một  sản phẩm truyền thông của dự án FTViet, đồng thời là một phần  của Dự án “Những người kể chuyện số r4d”

Nội dung phim được quay và chọn lọc bởi Nguyễn Thị Hải Vân ( Đại học Lausanne, Thụy Sĩ), Ngô Trí Dũng và Lê Thị Diễm Kiều (Trung tâm Tư vấn và Nghiên cứu về Quản lý Tài nguyên, Việt Nam). Quá trình kể chuyện kỹ thuật số được đồng hành và hỗ trợ bởi Paititi Lab . 

Nguồn: CORENARM

CORENARM Hỗ trợ nhóm chứng chỉ rừng huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đạt chứng chỉ Quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC.

Tập thể BVN cùng CORENARM và Đoàn đánh giá GFA.

Quản lý rừng bền vững đang là một xu hướng và đòi hỏi tất yếu của thị trường trong nước và thế giới về nguyên liệu gỗ hợp pháp. Tại Việt Nam, Chính phủ cũng đã ban hành Đề án quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, theo đó giai đoạn từ 2020 – 2030 sẽ đặt mục tiêu xây dựng và tổ chức cấp chứng chỉ cho 1 triệu ha rừng trồng sản xuất, phòng hộ của các tổ chức, hộ gia đình và ban quản lý rừng phòng hộ. Một trong những khó khăn của việc thực hiện mục tiêu này là, phần lớn rừng của Việt Nam thuộc sở hữu của các chủ rừng nhỏ với diện tích trung bình khoảng 2-3 ha. Với diện tích rừng nhỏ như vậy, rất khó để xây dựng và thực hiện các chương trình quản lý rừng bền vững theo các tiêu chuẩn quốc tế Tổng cục lâm nghiệp.

Trong bối cảnh đó, Ban đại diện Nhóm Chứng chỉ rừng huyện Thanh Chương được thành lập theo Quyết định số 1905/QĐ-UBND của UBND huyện Thanh Chương, ngày 23 tháng 7 năm 2021. Trong đó, Ban đại diện Chứng chỉ rừng FSC huyện Thanh Chương là đầu mối hỗ trợ nhóm chứng chỉ rừng, Công ty CP SX&TM gỗ Thanh Chương (BVN) là đại diện tư cách pháp nhân xin cấp chứng chỉ FSC/FM cho nhóm và Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý Tài nguyên (CORENARM) là đơn vị tư vấn hỗ trợ cho nhóm CCR huyện Thanh Chương trong việc xây dựng hệ thống tiến tới đăng ký cấp chứng chỉ FSC. Mục tiêu của việc cấp chứng chỉ rừng nhóm hộ nhằm đảm bảo quản lý rừng bền vững phù hợp về quy mô diện tích, nâng cao năng suất và giá trị rừng trồng, đồng thời gắng liền mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái, đa dạng sinh học của địa phương.

Ban đại diện Nhóm Chứng chỉ rừng Huyện thanh Chương.

Trong năm 2021, CORENARM đã đồng hành cùng cộng đồng, các ban ngành liên quan tại huyện Thanh Chương và BVN tổ chức các đợt tập huấn hỗ trợ nâng cao năng lực cho các bên liên quan về Quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC, tiêu chuẩn quản lý nhóm và rà soát, hoàn thiện hồ sơ chuẩn bị cho đánh giá cấp chứng chỉ FSC. 

Các lớp tập huấn hỗ trợ nâng cao năng lực cho các bên liên quan về Quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC.

Cuối Tháng 11, Nhóm Chứng chỉ rừng huyện Thanh Chương Nghê An đã tiến hành đánh giá năm đầu tiên do tổ chức cấp chứng chỉ Quốc tế GFA thực hiện và trở thành nhóm hộ đầu tiên tại tỉnh Nghệ An đạt chứng chỉ FSC (FM/CoC). Với quy mô diện tích năm đầu tiên đánh giá gần 3.800 ha, 616 hộ gia đình trên địa bàn 03 phân nhóm xã Thanh Hương, xã Thanh Thuỷ và BQL RPH Thanh Chương.

”Thông tin về Chứng chỉ FSC của nhóm hộ Thanh Chương” có thể xem tại đây.

Nguồn: Corenarm