Tội ác dưới tán rừng xanh…

 

 

Theo thống kê của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), từ năm 2012 đến 2017, diện tích rừng mất do chuyển đổi đất rừng làm thủy điện chiếm khoảng 68,2%.(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Cửa đóng nhưng ruột vẫn rỗng!

Lời tòa soạn

Với vai trò “lá phổi” của trái đất, rừng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn luôn là nhiệm vụ quan trọng không thể trì hoãn của tất cả các quốc gia. Đặc biệt tại các quốc gia đang phải đối mặt với những cuộc “khủng hoảng trong lâm nghiệp” do hoạt động khai thác rừng ngoài tầm kiểm soát, dẫn đến thiếu hiệu quả, thậm chí gây nhiều tác động xấu thì việc bảo vệ rừng, nguồn tài nguyên rừng càng đặt ra bức thiết hơn bao giờ hết.

Tại Việt Nam từ cách đây ¼ thế kỷ, vào năm 1993, cố Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã ban hành lệnh cấm khai thác gỗ rừng tự nhiên thông qua Chỉ thị 462-TTg về quản lý chặt chẽ việc khai thác, vận chuyển và xuất khẩu gỗ.

Thời kỳ này, Việt Nam đang đối mặt với tình trạng tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc suy giảm nghiêm trọng và chỉ thị 462 chuyển tải mệnh lệnh: “đóng ngay cửa rừng đối với rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng trên núi đá, rừng nghèo phải khoanh nuôi để xúc tiến tái sinh.”

Tuy nhiên, đến năm 2003 trước tình trạng chặt phá rừng và săn bắt động vật hoang dã đã có biểu hiện ngày càng lan rộng, đặc biệt nghiêm trọng là vùng rừng nguyên sinh, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn… cố Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải tiếp tục ban hành Chỉ thị số 12/2003/CT-TTg về tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ phát triển rừng, nhằm chấn chỉnh, khắc phục thiếu sót, yếu kém và lập lại trật tự kỷ cương trong công tác tổ chức quản lý bảo vệ rừng.

Độ che phủ rừng (%) của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tính đến ngày 31/12/2016

Hơn một thập kỷ sau, năm 2014, quyết tâm bảo vệ rừng, dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên tại các lâm trường, công ty lâm nghiệp với mục tiêu sau năm 2020 sẽ tạo được những khu rừng sản xuất có chất lượng tốt đủ điều kiện khai thác bền vững, tiếp tục được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng khẳng định tại phiên họp thường kỳ tháng 7/2015 với tuyên bố “Tôi yêu cầu dứt khoát đóng cửa rừng.”

Tái khẳng định quyết tâm mạnh mẽ hơn nữa của Chính phủ, ngày 20/6/2016, một hội nghị quy mô lớn do Thủ tướng Chính phủ trực tiếp chủ trì với nội dung bàn về các giải pháp khôi phục rừng bền vững, tổ chức tại tỉnh Đắk Lắk, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã tuyên bố “đóng cửa rừng tự nhiên, đóng cửa các cơ sở chế biến gỗ rừng tự nhiên” và đề nghị nhân dân cùng cơ quan chức năng giám sát nhằm ngăn chặn bằng được đầu ra của nạn phá rừng, khai thác gỗ tự nhiên…

Có thể thấy, trải qua quá trình lịch sử tròn ¼ thế kỷ việc “đóng cửa rừng tự nhiên” đã được nhìn nhận một cách thấu đáo, không dừng lại ở các chỉ thị mang tính chất định hướng mà đã tiến tới luật hóa trong văn bản có hiệu lực cao nhất của ngành lâm nghiệp. Điều này thể hiện sự quan tâm cũng như quyết tâm của Chính phủ Việt Nam mong muốn chấm dứt nạn phá rừng và bảo vệ vốn rừng tự nhiên còn lại.

Vậy nhưng, bất chấp những quyết tâm và mệnh lệnh của Chính phủ, tại nhiều địa phương trên cả nước, tình trạng “phá sơn lâm,” chuyển đổi rừng làm thủy điện, khai thác khoáng sản, khai thác gỗ trái phép…vẫn tiếp diễn phức tạp và gia tăng.

Thậm chí nhiều nơi, rừng tự nhiên còn bị “bốc hơi” nhanh đến ngỡ ngàng, vượt khỏi tầm kiểm soát.

Cùng với việc hàng loạt rừng cây cổ thụ bị xâm hại bởi tình trạng khai thác lâm sản trái pháp luật đã được người dân tố giác hoặc qua sự phanh phui của báo chí….thì những hình ảnh từ vệ tinh qua phần mềm Google Earth cũng cho thấy rừng Việt Nam đã và đang bị tàn phá rất nghiêm trọng. Nhiều khoảnh rừng đã bị mất trắng, đặc biệt là tại khu vực Tây Nguyên như các tỉnh Kon Tum, Đắk Lắk…

Công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết: Tổng diện tích rừng hiện có trên toàn quốc là khoảng 14,5 triệu hécta, trong đó có hơn 10,2 hécta rừng tự nhiên và gần 4,2 triệu hécta rừng trồng với độ che phủ toàn quốc 41,45%.

Theo con số này, tổng diện tích rừng có tăng nhẹ so với con số gần 14,4 triệu hécta với độ che phủ 41,19% (năm 2016). Tuy nhiên, xét riêng từng loại rừng, rừng tự nhiên đã giảm 5.726 hécta so với năm 2016.

Các nghiên cứu của Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng cho thấy, diện tích rừng nguyên sinh đang giảm trầm trọng. Hiện nay, phần lớn rừng tự nhiên còn lại chỉ là rừng nghèo (đối với gỗ, trữ lượng cây đứng từ 10 đến 100 m3/ha). Nói cách khác, mặc dù diện tích rừng hiện nay có tăng nhưng chất lượng rừng vẫn đang suy giảm.

Hiện nay, phần lớn rừng tự nhiên còn lại chỉ là rừng nghèo (đối với gỗ, trữ lượng cây đứng từ 10 đến 100 m3/ha). Nói cách khác, mặc dù diện tích rừng hiện nay có tăng nhưng chất lượng rừng vẫn đang suy giảm.

Hệ quả của việc “phá sơn lâm,” khai thác lâm sản trái phép trong thời gian qua không chỉ phá vỡ hệ sinh thái, ảnh hưởng tới khả năng giữ nước và điều tiết dòng chảy, mà còn gây ra các mối hiểm họa chết người, thiệt hại kinh tế nặng nề do sạt lở đất, lũ quét ngày càng nghiêm trọng hơn, điển hình là khu vực các tỉnh miền núi cao như Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Điện Biên, Yên Bái…

Vậy lý do gì mà thời gian qua “rừng vàng, biển bạc” trên toàn quốc liên tiếp bị lấn chiếm, tàn phá không thương tiếc, khiến nhiều khoảnh rừng bị mất trắng không còn màu xanh trên bản đồ, rồi hàng loạt vụ khai thác lâm sản (cây gỗ cổ thụ, quý hiếm) trái pháp luật vẫn diễn ra với mức độ ngày càng khủng khiếp như vậy?

Để trả lời cho câu hỏi trên, nhóm phóng viên VietnamPlus đã dành nhiều tháng đi thực địa, tiếp cận các “điểm nóng” phá rừng để điều tra, làm việc với các cấp chính quyền, lực lượng chức năng từ địa phương đến Trung ương để tìm ra những “lỗ hổng” của Luật, cũng như bất cập trong việc thực thi quản lý đã tạo ra kẽ hở cho “tội ác” dễ dàng tồn tại ngay dưới những tán rừng xanh trong suốt thời gian dài…

Đột kích sào huyệt các ‘điểm nóng’ phá rừng tự nhiên

“Tôi tái khẳng định quyết tâm mạnh mẽ hơn nữa của Chính phủ, bảo vệ rừng chính là bảo vệ phần cốt lõi của an ninh, không chỉ an ninh của vùng được mệnh danh là nóc nhà Đông Dương này, mà là an ninh của cả nước.” Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã tái khẳng định quyết tâm bảo vệ đại ngàn sau lệnh đóng cửa rừng vào năm 2014, kiên quyết xử lý “tội ác phá rừng,” tại cuộc họp với các tỉnh Tây Nguyên vào đầu tháng 3/2017, vậy nhưng thời gian qua, hàng loạt cánh rừng trên cả nước vẫn tiếp tục bị lấn chiếm, tàn phá nghiêm trọng.

Điều đáng nói là, tình trạng phá rừng, khai thác gỗ trái phép trên không chỉ diễn ra ở các khu vực vùng lõi, mà còn diễn ra phổ biến ở cả nơi được mệnh danh là “giữ rừng tốt nhất của Tây Nguyên” tại tỉnh Kon Tum-khu vực đã được cấp Chứng chỉ quản lý rừng bền vững về gỗ có kiểm soát đối với rừng tự nhiên tại Việt Nam.

Hành trình gian nguy để tiếp cận những điểm nóng phá “rừng cây sách Đỏ”

Đầu tháng 4/2018, phóng viên VietnamPlus nhận được thông tin từ một tổ chức nghiên cứu về rừng rằng, hiện nay tình trạng phá rừng đang diễn ra rất khủng khiếp. Nổi bật nhất là các tỉnh Hà Giang, Bắc Kạn, Quảng Bình, Bình Định, khu vực Tây Nguyên, và đặc biệt là tỉnh Quảng Nam-khi lãnh đạo tỉnh này đã phải kêu gọi người dân đứng ra tố giác những kẻ phá rừng…để quyết tâm giữ lấy đại ngàn.

Hành trình tiệm cận điểm nóng phá rừng vô cùng gian nguy của phóng viên. (Ảnh: Vietnam+)

Giữa hàng loạt “điểm nóng” được nhắc đến, chúng tôi đã quyết định chọn Quảng Nam là điểm đến đầu tiên cho hành trình tiệm cận sào huyệt phá rừng tự nhiên. Trong chuyến đi thực tế dài ngày tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh nằm trên địa bàn hai huyện Nam Giang và Phước Sơn, chúng tôi đã thực sự vô cùng đau xót khi phải chứng kiến cảnh rừng cây cổ thụ nơi đây tan hoang do bị lâm tặc triệt hạ không thương tiếc.

Để có thể tiếp cận được sào huyệt phá rừng này, nhóm phóng viên mất nhiều ngày dò hỏi, nắm bắt tình hình. Đường vào “điểm nóng triệt hạ rừng lim cổ thụ” vô cùng gian nan, nhất là trong sự “bảo vệ” trùng trùng lớp lớp bởi sự phân bổ dày đặc các tai mắt của lâm tặc.

Phải mất hơn hai ngày dò la, tìm kiếm sự trợ giúp, chúng tôi mới gặp được ông T., một người dân có kinh nghiệm đi rừng. Nhưng ngay khi nghe chúng tôi đề cập đến việc dẫn đường vào rừng, ông T., liền từ chối với lý do sợ bị lâm tặc tìm cách trả thù.

Bản thân ông T., trước đây cũng từng là một “lâm tặc,” chuyên vào rừng khai thác lâm sản, nhưng rồi nhìn những cánh rừng bạt ngàn cây cổ thụ ngày càng cạn kiệt, nên nhiều năm nay ông T., đã quyết tâm giải nghệ, hoàn lương bằng nghề hái nấm. Sau nhiều lần thuyết phục và nhờ sự tác động của một số người quen trên địa bàn, cuối cùng ông T., mới chịu đồng ý dẫn chúng tôi vào rừng sau khi đưa ra một loạt các yêu cầu vô cùng nghiêm ngặt để nhóm phóng viên “tuân theo.”

Để có thể tiếp cận được sào huyệt phá rừng này, nhóm phóng viên mất nhiều ngày dò hỏi, nắm bắt tình hình. (Ảnh: Vietnam+)

Trong vai người dân đi hái nấm, những thiết bị ghi hình được giấu kín để đảm bảo an toàn, ngay khi mặt trời vừa “thức giấc,” chúng tôi cả vị dẫn đường là 4 người quyết định khởi hành cuộc thị sát vào sào huyệt phá rừng tự nhiên trong Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, chấp nhận hiểm nguy đang rình rập trước mắt.

Trên đường đi, từ những câu chuyện của ông T., kể về khu vực Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh và thực tế nhìn thấy, chúng tôi đã thực sự được nhìn thấy, sờ thấy sự tàn phá của lâm tặc nhiều năm qua. Những gốc lim, sến, kiền kiền …cổ thụ quý hiếm có độ tuổi trên trăm năm mà ông T., nói đến giờ trơ gốc chỉ còn đọng lại những vệt nhựa bầm như máu của cây đầy đau xót…

Nhịp độ phá rừng lại diễn ra đều đặn “như cơm bữa” tại lâm phần của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Đắk Tô, tại tỉnh Kon Tum. (Ảnh: Vietnam+)

Ông T., cho biết khu vực này đã bị lâm tặc xâm hại cách đây đã khá lâu. Còn bây giờ muốn thấy “máu đại ngàn” thì phải đi sâu vào trong vùng lõi.

Sau hơn một giờ di chuyển bằng thuyền theo dòng sông Thanh, chúng tôi bắt đầu tiếp cận vùng rìa Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh với những gốc lim cổ thụ bị đốn hạ nay đã khô mục. Ông T., cho biết khu vực này đã bị lâm tặc xâm hại cách đây đã khá lâu. Còn bây giờ muốn thấy “máu đại ngàn” thì phải đi sâu vào trong vùng lõi.

Theo chân người dẫn đường, chúng tôi tiếp tục đi bộ khoảng vài tiếng vào sâu trong rừng. Trên đường đi, chúng tôi phát hiện một khu vực rộng lớn với những vạt rừng đã bị triệt hạ. Tại đây có hàng loạt gốc cây gỗ lim cổ thụ hàng trăm năm tuổi, có đường kính từ 2-3 người ôm bị lâm tặc cưa xẻ lấy gỗ chỉ còn trơ lại phần gốc.

Một gốc cây lim xanh cổ thụ bị chặt hạ, phần gốc vẫn còn tươi. (Ảnh: Vietnam+)

Đi tiếp một đoạn, chúng tôi bắt gặp 2 cây lim bị đốn hạ từ lâu nhưng lâm tặc mới tiến hành cưa xẻ để lấy gỗ, vết cưa còn rất mới. Ngoài những đoạn gỗ lớn đã được vận chuyển ra khỏi rừng, hiện trường còn lại những khúc gỗ đường kính gần 1 mét, những bìa gỗ, các nhánh cây, vỏ gỗ cây bị lâm tặc vứt bỏ lại nằm ngổn ngang.

Trước đó, tại khu vực rừng phòng hộ ở sông Kôn nơi giáp ranh giữa 2 xã Jơ Ngây và xã Za Hung, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam, khoảng 33 cây gỗ quý cũng đã bị lâm tặc chặt hạ, lượng gỗ thiệt hại hơn 45 m3 (từ nhóm III đến nhóm VII).

Nhận thấy “làn sóng” phá rừng quá nhức nhối trên địa bàn, mới đây, ông Lê Trí Thanh-Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam đã phải viết “tâm thư” gửi lượng kiểm lâm và ban quản lý rừng trên địa bàn, với những chỉ trích: “Gỗ to như thế, bị chặt hạ bằng cưa máy, kéo ra khỏi rừng thành lối mòn, rồi chở đi bằng cách nào, tập kết ở đâu, bán cho ai-người dân địa phương đều biết, mà các đồng chí lại không biết, hoặc biết mà không nói, nói mà không làm, làm mà không tận gốc…”

Thống kê thiệt hại rừng từ năm 2006 tới tháng 5/2018

“Với lương tâm và lòng tự trọng cao nhất, tôi muốn các đồng chí hãy dũng cảm đối mặt với sự thật để trả lời những câu hỏi đó. Và hơn thế nữa, mỗi đồng chí hãy góp một tiếng nói để chúng ta cùng cải tổ triệt để công tác quản lý bảo vệ rừng, để rừng không mất đi và niềm tin còn ở lại…”- Phó Chủ tịch Lê Trí Thanh kêu gọi.

Không chỉ viết “tâm thư,” ông Thanh còn ký công văn yêu cầu triển khai một số nhiệm vụ cấp bách trong công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn. Trong đó nhấn mạnh việc khẩn trương hoàn thành hồ sơ, khởi tố các vụ án phá rừng, hủy hoại rừng, khởi tố bị can, và đề nghị truy tố ở mức độ có tính răn đe cao, phù hợp với quy định pháp luật.

Một gốc cây cổ thị bị lâm tặc chặt hạ, cưa xẻ chưa kịp tẩu tán ra khỏi rừng xanh.(Nguồn: Vietnam+)

“Quản lý như thể chỉ ăn tốn cơm nhà nước”

Trong khi rừng đại ngàn tại Quảng Nam còn chưa yên, thì tại Tây Nguyên, nhịp độ phá rừng lại diễn ra đều đặn “như cơm bữa” ở cả nơi được đánh giá là giữ rừng tốt nhất tại tỉnh Kon Tum. Hàng ngày, lâm tặc cùng các phương tiện khai thác gỗ trái phép vẫn vô tư vào rừng chặt hạ cây cổ thụ rồi tẩu tán ra khỏi lâm trường, trước sự “bất lực” của chủ rừng và các cấp chính quyền, lực lượng chức năng.

Những ngày đầu tháng 7, bầu trời Tây Nguyên lúc nào cũng trực mưa ầm ào, vậy mà, những khu rừng nơi đây vẫn bị quấy phá liên hồi bởi tiếng cưa xăng và xe chế độ gầm rú. Nhức nhối nhất là sào huyệt phá rừng tại lâm phần của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Đắk Tô, nằm trên khu vực giáp ranh giữa ba huyện Đắk Tô, Ngọc Hồi và Tu Mơ Rông của tỉnh Kon Tum.

Lâm tặc cùng các phương tiện khai thác gỗ trái phép tại lâm phần của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Đắk Tô. (Ảnh: Vietnam+)

Điều đáng nói là, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Đắk Tô lại là đơn vị đầu tiên nhận được Chứng chỉ quản lý rừng bền vững về gỗ có kiểm soát đối với rừng tự nhiên tại Việt Nam. Tuy nhiên, nơi được xem là giữ rừng tốt nhất Tây Nguyên này lại đang ngày đêm bị lâm tặc tàn phá không thương tiếc.

Bám theo con đường mòn trơn trượt và dốc thẳng đứng, nhóm phóng viên VietnamPlus được hai cán bộ của Đội Bảo vệ và Khai thác rừng tác động thấp thuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Đắk Tô, chở vào rừng bằng chính những chiếc xe chế độ tịch thu của lâm tặc.

Chỉ chừng 30 phút sau, ngay ven đường đã xuất hiện 2 cây dổi đường kính lên tới 1m, dài hàng chục mét vừa bị lâm tặc cưa đổ, lá còn tươi nguyên, những vết cắt mới đỏ au. Kế đó là rất nhiều cây dổi khác cũng đã bị xẻ thành phách, đang chờ được vận chuyển ra bìa rừng cùng ngổn ngang các ngọn, cành cây bị bỏ lại.

Hiện trường sót lại dưới một gốc cây cổ thụ vừa bị lâm tặc đốn hạ tại lâm phần của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Đắk Tô. (Ảnh: Vietnam+)

Tiếp tục đi vào trong rừng thêm 10km, dọc đường với hàng trăm lối mở chỉ đủ để xe máy đi được, người dẫn đường cho biết tất cả những lối mở này đều là những người phá rừng họ làm để tiện vận chuyển gỗ ra khỏi rừng. Xung quanh con đường độc đạo xuyên vào rừng tiếng cưa máy vang vọng như muốn xé toang cả núi rừng.

Càng đi sâu vao khu vực giáp ranh giữa các huyện Đắk Tô, Ngọc Hồi thì tình trạng rừng bị phá diễn ra rầm rộ hơn. Lâm tặc đã dùng trâu kéo gỗ qua những đoạn đường dễ, nơi khó khăn vực sâu thì dùng máy tời kéo lên. Xung quanh, rất nhiều cây thông nàng có đường kính từ 2-3 người ôm mới bị cưa đổ được ngụy trang bằng những cành cây khô để che mắt chủ rừng đã bị nhóm phóng viên phát hiện.

Chỉ trong một buổi sáng “đột kích” vào sào huyệt phá rừng thuộc lâm phần của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Đắk Tô quản lý, chúng tôi đã phát hiện ra hàng chục gốc cây cổ thụ (đa phần là cây dổi, thông nàng, re…) đã bị chặt hạ không thương tiếc, nhiều cây vừa bị chặt, gốc còn “chảy máu.”

Sau nhiều giờ len lỏi trong rừng, chứng kiến cảnh tượng tan hoang ngay dưới tán rừng xanh, những cơn mưa chiều nặng hạt bắt đầu trút xuống cũng là lúc chúng tôi nhanh chóng rời khỏi rừng. Trên đường ra, tiếng máy cưa vẫn vang vẳng, tiếng xe máy chế độ gầm rú đã khiến đại ngàn không còn những tiếng chim kêu, vượn hót như vốn có của nó.

Trao đổi với phóng viên VietnamPlus ngay tại cửa rừng, ông Nguyễn Xuân Đường, Đội phó Đội Bảo vệ và Khai thác rừng tác động thấp thuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Đắk Tô thừa nhận, tình trạng khai thác lâm sản trái phép ngay trong lâm phần do công ty quản lý bấy lâu nay đang diễn ra rất phức tạp, và phía công ty cũng đang gặp “bế tắc” trong việc ngăn chặn, xử lý.

“Hàng ngày, các đối tượng vận chuyển gỗ bằng xe máy độ chế và bằng nhiều con đường khác nhau nên việc kiểm soát rất khó khăn. Họ (lâm tặc) vào rừng vào ban ngày, nhưng mọi hoạt động lại diễn ra vào ban đêm nên rất khó bắt giữ họ. Khi gặp mình là họ bỏ gỗ chạy vào rừng ngay,” ông Đường giãi bày.

Ông Nguyễn Văn Tiến-Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Kon Tum: “Quản lý như thế chỉ ăn tốn cơm nhà nước”. (Ảnh: Vietnam+)

Ông Đường cũng cho biết, từ khi thành lập vào tháng 8/2017 đến nay, đội đã phát hiện 7 vụ khai thác gỗ trái phép, trong đó từ đầu năm 2018 đến nay phát hiện 3 vụ. Thông thường đội chỉ kiểm soát tốt ở vị trí gần, còn ở xa đường khó đi nên rất khó.

Kiểm soát tốt ở vị trí gần, vậy tại sao nhiều cây gỗ ven đường liên tiếp bị chặt hạ, mà công ty này vẫn không hề phát hiện, cho đến khi phóng viên “khai quật”? Ông Đường lý giải: “Những cây không phát hiện được, một là chặt mới, hai là mùa mưa đi lại khó khăn nên anh em chưa đi tới. Chúng tôi đi tuần mỗi tuần hai lần, có thể những khoảng giữa ngắt quãng đó, lâm tặc nó tận dụng cơ hội vào rừng khai thác.”

Tiếp tục làm việc với ông Vũ Văn Cương, Phó Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Đắk Tô về thực trạng quản lý lâm phần, vị này lại viện dẫn cái khó của “người làm chủ” rằng: “Từ cuối năm 2017 đến nay, tình trạng khai thác lâm sản trái phép tại khu vực lâm phần của công ty quản lý diễn ra rất phức tạp, phía công ty cũng đã làm nhiều biện pháp nhưng chỉ hạn chế thôi chứ không ngăn chặn được tuyệt đối.”

Bảo vệ rừng là bảo vệ chính cuộc sống của chúng ta, nhưng thực tế là đây…(Ảnh: Vietnam+)

Khi được hỏi về đường đi của gỗ, vị Phó Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Đắk Tô, liền từ chối trả lời với lý do “vai trò của công ty không trả lời được.” Dù vậy, vị này cũng khẳng định “chúng tôi cam đoan không có chuyện mở cửa, tiếp tay cho lâm tặc vào rừng khai thác gỗ trái phép.”

“Để mất rừng trách nhiệm đầu tiên là bà con, vì công ty đã giao khoán cho 49 cộng đồng nhận khoán 11.600ha. Thứ hai là chủ rừng, mình không từ chối trách nhiệm, rồi đến các chính quyền địa phương các cấp và lực lượng chức năng có hệ thống tổ chức như kiểm lâm, công an và các hệ thống chính trị khác. Còn riêng chúng tôi đã làm mọi biện pháp để ngăn chặn rồi,” Phó giám đốc phụ trách về bảo vệ rừng Vũ Văn Cương.

Trước làn sóng phá rừng, ông Lê Trí Thanh-Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam đã phải viết “tâm thư” gửi lực lượng kiểm lâm và các ban quản lý rừng trên để bàn để nhắc nhở, yêu cầu ngăn chặn vấn nạn “xẻ thịt đại ngàn”. (Ảnh: Vietnam+)

Trong khi đó, trả lời câu hỏi của phóng viên VietnamPlus về việc tại sao gỗ rừng do công ty quản lý lại dễ dàng tuồn ra ngoài như vậy, liệu có gì “bất thường”?

Ông Nguyễn Văn Tiến-Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Kon Tum: “Trong luật quy định chủ rừng như chủ nhà, gỗ ngay ven đường không phát hiện thì nói chung là có vấn đề, có vi phạm mà không báo cáo là sai.”

“Nếu thấy cưa máy mà về không có động thái gì thì ông ở đó làm gì, làm như thế chỉ ăn tốn cơm nhà nước, ông nằm trong tổ công tác liên ngành mà không có thông tin phản hồi gì là thiếu tinh thần trách nhiệm, chúng tôi sẽ làm việc rõ với đơn vị chủ rừng,” ông Tiến khẳng định.

Không chỉ quy trách nhiệm trực tiếp cho chủ rừng, ông Tiến còn cho hay, trong 6 tháng đầu năm 2018, trên địa bàn tỉnh Kon Tum đã xảy ra 257 vụ vi phạm lâm luật, đến nay đã khởi tố 6 vụ và xử lý vi phạm hành chính 251 vụ. Trong đó, Đắk Tô là một trong những huyện “điểm nóng” phá rừng, khai thác lâm sản trái phép.

Trong 6 tháng đầu năm 2018, trên địa bàn tỉnh Kon Tum đã xảy ra 257 vụ vi phạm lâm luật, đến nay đã khởi tố 6 vụ và xử lý vi phạm hành chính 251 vụ. (Ảnh: Vietnam+)

“Thời gian qua, chúng tôi cũng đã nhiều lần truy quét, đặc biệt đợt vừa rồi phía Công ty Đăk Tô đã kéo 84m3 gỗ không rõ nguồn gốc ra khỏi rừng, nhưng không hề báo cáo với cơ quan chức năng. Hiện tỉnh ủy cũng đã chỉ đạo sở nông nghiệp thành lập đoàn kiểm tra tất cả các công tác quản lý bảo vệ rừng của đơn vị này, công an cũng đang điều tra, xử lý,” ông Tiến nói thêm.

Nguồn: Thiennhien.netHùng Võ/ VietNamPlus

Phát hiện loài cây mới thuộc họ Cúc có khả năng giữ nước

Loại cây này cao tới 1,2m, có lá mọng nước, thích hợp để giữ nước và ứng phó với sự thay đổi nhiệt độ trong hệ sinh thái núi cao tại vùng xích đạo.

Theo phóng viên TTXVN tại Nam Mỹ, ngày 5/6, các nhà khoa học công bố phát hiện một loài cây mới thuộc chi Espeletia của họ Cúc có khả năng duy trì dòng chảy của sông và suối tại một ngọn núi ở tỉnh Antioquia của Colombia.

Loại cây này cao tới 1,2m, có lá mọng nước, thích hợp để giữ nước và ứng phó với sự thay đổi nhiệt độ trong hệ sinh thái núi cao tại vùng xích đạo.

Nhà sinh vật học Fernando Alzate tại Đại học Antioquia, người đứng đầu nhóm nghiên cứu, cho biết các nhà khoa học đã phát hiện từ 300 đến 400 cá thể của loài cây mới sinh sống trên một diện tích trải rộng khoảng nửa hecta.

Theo Viện nghiên cứu sinh học Alexander von Humboldt, các loài cây thuộc chi Espeletia chỉ phát triển ở độ cao trên 3.000m trong những khu vực tại dãy Andes ở Colombia, Venezuela, Peru và Ecuador. Trong đó, Colombia, quốc gia đa dạng sinh học thứ hai trên thế giới, tập trung gần 60% các hệ sinh thái này.

Các nghiên cứu của Đại học Quốc gia Colombia chỉ ra các loài cây họ Cúc này giữ nước từ các đám mây và sương mù bao quanh chúng và đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì dòng chảy của các con sông và suối cũng như điều chỉnh sự lưu thông của chất lỏng trong các hệ sinh thái ẩm.

Nguồn: Thiennhien.net

Xây dựng hệ thống đánh giá chi trả dịch vụ môi trường rừng thống nhất trên cả nước

Xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá chi trả dịch vụ môi trường rừng thống nhất trên cả nước nhằm tạo khung pháp lý để huy động các nguồn lực xã hội bền vững là nội dung chính của hội thảo “Tiếp cận đa bên trong giám sát, đánh giá chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng” do Trung tâm con người và thiên nhiên (PanNature) và Hội chủ rừng Việt Nam tổ chức ngày 28/5, tại Hà Nội.

Phát biểu tại hội thảo, ông Trịnh Lê Nguyên, Giám đốc PanNature cho biết: Mục tiêu của hội thảo nhằm nhận diện và chia sẻ các cách tiếp cận khác nhau trong thiết kế và xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá chi trả dịch vụ môi trường rừng quốc gia và địa phương; bài học kinh nghiệm từ quan điểm của các bên. Đồng thời, đây là dịp thảo luận về cơ hội cho sự tham gia của các tổ chức ngoài nhà nước (tổ chức nghiên cứu, xã hội dân sự và cả cộng đồng) trong thiết kế và thực hiện hệ thống giám sát – đánh giá chi trả dịch vụ môi trường rừng…

Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Bá Ngãi, Hội chủ rừng Việt Nam, chi trả dịch vụ môi trường rừng là một chính sách lớn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn được các cấp chính quyền, cơ quan, tổ chức đồng tình ủng hộ và thực hiện, nhân dân hưởng ứng và tham gia mạnh mẽ. Chính sách này nhanh đi vào cuộc sống và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Theo đó, chi trả dịch vụ môi trường rừng là một trong 10 thành tựu nổi bật nhất của ngành Nông nghiệp trong giai đoạn 2011-2015 và tiếp tục giữ vững là một trong những lĩnh vực hàng đầu của ngành Lâm nghiệp.

Bàn về tiến trình và định hướng xây dựng hệ thống giám sát đánh giá chi trả, Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng Việt Nam Lê Văn Thanh cho biết: Sau hơn 9 năm thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng, việc chi trả đã được thực hiện trên phạm vi 45 tỉnh, 500 huyện, 4.750 xã với 417.676 hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư và nhóm hộ, 1.055 tổ chức. Tuy vậy, việc chi trả dịch vụ môi trường rừng đang thiếu cơ chế và hệ thống giám sát, đánh giá; thiếu các quy định chung về Bộ chỉ số giám sát, đánh giá; thiếu quy định ràng buộc về trách nhiệm giám sát và báo cáo giám sát giữa các cấp, giữa các bên liên quan; thiếu quy định về tự giám sát của các bên liên quan. Những vấn đề nêu trên đang tạo ra một khoảng trống lớn về hệ thống thông tin, dữ liệu phục vụ cho báo cáo và giải trình giữa các cấp, các bên liên quan; thiếu hệ thống giám sát, chỉ tiêu, chỉ số cho đánh giá tính công khai, minh bạch, hiệu quả và tác động, ảnh hưởng của thực thi chi trả dịch vụ môi trường rừng…

Xuất phát từ yêu cầu thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng, nhiều đại biểu tham gia hội thảo cho rằng, mục tiêu của việc chi trả dịch vụ môi trường rừng là để cải thiện cuộc sống cho người dân có rừng hay bảo vệ rừng nói riêng và góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, phát triển rừng nói chung. Tuy vậy, để bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả, không chỉ dựa vào một chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, mà cần nhiều hơn các cơ chế như mở rộng nhiều hơn các loại dịch vụ. Mức chi trả cũng nên tính toán lại để bảo đảm tương xứng với giá trị và nỗ lực bảo vệ rừng đặt ra.

Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần kịp thời xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá chi trả dịch vụ môi trường rừng thống nhất trên cả nước. Lộ trình xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá gồm: Tiếp tục nghiên cứu, thí điểm để tổng kết, bổ sung các nội dung giám sát và đánh giá trong Nghị định số 156/2018/NĐ-CP; Quỹ Trung ương phối hợp với các Quỹ tỉnh và các chương trình, dự án tiếp tục nghiên cứu, thí điểm, tổng kết, tham mưu Tổng cục Lâm nghiệp xây dựng và ban hành Sổ tay hướng dẫn giám sát và đánh giá chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Nguồn: Diệu Thúy- Báo Tin Tức

Quảng Nam: Kiểm tra tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm trong quản lý rừng

UBND tỉnh Quảng Nam vừa ban hành Kế hoạch số 2792/KH-UBND kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản năm 2020 trên địa bàn tỉnh.

Kế hoạch ban hành thực hiện nhằm mục đích xem xét, đánh giá thực trạng công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; kịp thời phát hiện những tồn tại, vướng mắc, bất cập và kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Đồng thời, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị thuộc đối tượng được kiểm tra, bảo đảm sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương có liên quan trong công tác kiểm tra.

Theo Kế hoạch, nội dung kiểm tra về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; đối tượng kiểm tra tại Chi Cục kiểm lâm tỉnh và một số Hạt Kiểm lâm (do Chi Cục kiểm lâm tỉnh lựa chọn) và thời gian kiểm tra trong Quý III/2020. Thành phần Đoàn kiểm tra liên ngành gồm: Lãnh đạo Sở Tư pháp làm Trưởng đoàn; các thành viên là đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi Cục kiểm lâm tỉnh và một số cơ quan, đơn vị có liên quan.

Việc kiểm tra phải thực hiện nghiêm túc, khách quan, đúng quy định của pháp luật, đảm bảo tiến độ và đạt hiệu quả; không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị được kiểm tra.

UBND tỉnh giao Giám đốc Sở Tư pháp ban hành Quyết định thành lập Đoàn Kiểm tra liên ngành; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nội dung theo Kế hoạch này; Đoàn Kiểm tra liên ngành thông báo lịch kiểm tra cụ thể cho các cơ quan, đơn vị được kiểm tra; thực hiện kiểm tra đảm bảo theo kế hoạch và xây dựng báo cáo kết quả kiểm tra tại các cơ quan, đơn vị, báo cáo UBND tỉnh và Bộ Tư pháp theo quy định.

Các cơ quan, đơn vị được kiểm tra chuẩn bị báo cáo về nội dung được kiểm tra và gửi về Sở Tư pháp chậm nhất trước 05 ngày kể từ ngày có thông báo kiểm tra của Đoàn Kiểm tra liên ngành. Số liệu báo cáo tính từ ngày 01/01/2019 đến hết ngày 30/6/2020; cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan đến nội dung kiểm tra và theo yêu cầu của Đoàn Kiểm tra liên ngành; Chi Cục kiểm lâm tỉnh lựa chọn 02 Hạt Kiểm lâm để Đoàn Kiểm tra liên ngành tiến hành kiểm tra.

rung2
Một vụ cháy rừng do đốt thực bì tại Quảng Nam

Các Sở, Ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố và các cơ quan, đơn vị còn lại tự kiểm tra các nội dung nêu trên và các nội dung khác theo Kế hoạch do cơ quan, đơn vị, địa phương ban hành; báo cáo kết quả kiểm tra thành một mục riêng trong Báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2020 và gửi về UBND tỉnh (qua Sở Tư pháp) trước ngày 10/01/2021.

Nguồn: Võ Hà/Báo Tài nguyên và Môi trường.

Một Liên minh vì cây xanh: Tại sao đa dạng sinh học rừng “quá quý giá nên không thể để mất”

Sau những vụ cháy rừng đến sự bùng nổ của Covid 19, năm nay đã đặt ra rất nhiều thách thức đối với sức khỏe của con người và của cả hành tinh chúng ta. Hơn bao giờ hết, bây giờ rừng đóng vai trò rất quan trọng.

Vào Ngày quốc tế về rừng (21/3), Liên minh giữa Bioversity International và CIAT vạch ra những phương pháp nghiên cứu để đảm bảo phục hồi và giúp bảo tồn các khu rừng hiệu quả hơn, với những ví dụ từ những dự án của Liên minh trên khắp thế giới.

Theo báo cáo của FAO, có đến 80% đa dạng sinh học trên cạn trên thế giới nằm trong rừng và hơn một tỷ người trên hành tinh này sống dựa vào rừng để lấy thức ăn, nơi ở, nguồn năng lượng và thu nhập.

Tuy nhiên, thật đáng buồn khi nạn phá rừng, sự suy thoái đất và biến đổi khí hậu hiện đang là các mối đe dọa chưa từng có đối với những khu rừng đa dạng sinh học, vốn đảm nhận vai trò to lớn giúp phục hồi môi trường và xã hội. Nạn phá rừng và mất đa dạng sinh học đang khiến con người tiếp xúc gần hơn với các loài động vật là vật chủ tự nhiên của vi khuẩn và vi rút, tạo điều kiện cho việc truyền các bệnh như bệnh Lyme hoặc COVID-19 từ động vật hoang dã sang người.

Vào lúc này, khi các tập quán sinh thái trên toàn cầu đang bị phá vỡ, chúng ta cần có những nghiên cứu cụ thể để hỗ trợ cho những tập quán tốt hơn. Trong một số dự án ở Châu Á, Châu Phi và Mỹ Latin, Liên minh Bioversity International và CIAT cùng với những đối tác đang xúc tiến để hiểu rõ hơn về mức độ rủi ro đối với các hệ sinh thái rừng cá lẻ, giải thích tầm quan trọng của các dịch vụ hệ sinh thái do các khu rừng này cung cấp, và thúc đẩy những nỗ lực nhằm bảo tồn và phục hồi những khu rừng này.

Bản đồ các mối de dọa

Để bảo vệ rừng, chúng ta cần hiểu đâu là mối đe dọa cao nhất. Ở Nam Mỹ, một dự án của Liên minh tập trung vào nghiên cứu rừng khô nhiệt đới, một hệ sinh thái đặc hữu đặc biệt chỉ có ở các vùng của Peru, Ecuador và Colombia.

Trong một bài báo vừa xuất bản, nghiên cứu của Liên minh cho thấy rằng nhóm 50 loài trong hệ sinh thái này đang phải đối mặt với những mối đe dọa đáng kể. Trong đó, mối đe dọa đáng chú ý nhất là việc thay đổi sử dụng đất của người dân, hơn 40% đất rừng khô nhiệt đới đã bị chuyển đổi sang đất nông nghiệp.

Một kết quả tương tự cũng được ghi nhận ở Đông Nam Á, nơi các nhà nghiên cứu của Liên minh đã tạo ra các bản đồ phân bố và mối đe dọa cho 65 loài cây bản địa trong khu vực có liên quan đến kinh tế và xã hội.  Sáng kiến ​​này nhằm “Thiết lập một hệ thống thông tin và tài nguyên di truyền cho các loài cây bản địa châu Á” (APFORGIS). Dự án được thực hiện ở quy mô chưa từng có, với hơn 40 cộng tác viên từ 15 quốc gia.  Kết quả cho thấy 38% diện tích phân bố của các loài này đã bị mất hoặc xuống cấp.

Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng không quên nhìn về tương lai.  Họ đã phát hiện rằng những cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) – nguồn gỗ quan trọng và tích trữ carbon giá trị – có thể bị mất đến 80% số lượng trong 30 năm tới do chuyển đổi sử dụng đất, nếu không có các biện pháp bảo tồn.

Dịch vụ sinh thái

Hiểu về những đe dọa mà con người gây ra cho rừng là rất quan trọng, nhiều nhóm cộng đồng yếu thế cũng cần tiếp cận tài nguyên rừng và do vậy, thay đổi sử dụng đất (rừng) thường được giải thích bởi do cải thiện sinh kế địa phương qua canh tác nông nghiệp.

Đó là lý do tại sao Liên minh đưa ra sáng kiến ​​trên toàn cầu để phản ánh đúng giá trị của các hệ thống nông lâm kết hợp, trong đó rừng hỗ trợ thụ phấn, kiểm soát dịch hại sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái khác khi được tích hợp với sản xuất các loài cây nông nghiệp có giá trị.

Ở Nam Mỹ, các nhà nghiên cứu Liên minh đang đánh giá cách thức các loài chim, dơi, động vật chân đốt và kiến ​​từ các khu rừng xung quanh giúp cải thiện năng suất của các trang trại ca cao Peru (Theobroma cacao).  Trong nghiên cứu này, họ tập trung vào các giống cacao bản địa vì chúng không chỉ là nguồn gen quan trọng mà còn là cơ hội kinh tế cho những người nông dân sản xuất nhỏ có thể kiếm được nhiều hơn khi bán cacao chính gốc.

Bảo tồn và phục hồi

Một trong những ưu tiên chính trong các sáng kiến của Liên minh đó là nâng cao/chuyển giao năng lực cho địa phương thông qua các công cụ khoa học. Kết quả của nghiên cứu lập bản đồ các mối đe dọa được thực hiện ở Nam Mỹ và châu Á hiện đang được tổng hợp thành các nền tảng trực tuyến hỗ trợ cho việc lập kế hoạch các dự án bảo tồn và phục hồi.

Công cụ đa dạng trong phục hồi rừng (D4R) do các nhà nghiên cứu của Liên minh phát triển cho rừng khô nhiệt đới ở Colombia năm 2016, nay đang được mở rộng để áp dụng ở Peru và Ecuador. Đây là công cụ miễn phí giúp khuyến nghị trồng rừng phục hồi, tập trung chính vào đa dạng loài phù hợp với địa điểm và mục đích của dự án.  Một thiết kế/công cụ tương tự cũng đang được phát triển cho các nghiên cứu về phân bố và lập bản đồ các mối đe dọa (đối với loài cây bản địa) ở Đông Nam Á.

Đào tạo là một hợp phần quan trọng khác giúp Liên minh hỗ trợ công cuộc bảo tồn và phục hồi rừng toàn cầu. Liên minh đã tổ chức khóa học đầu tiên về công cụ D4R cho 140 bên liên quan đến từ các lĩnh vực công, học thuật, phi lợi nhuận và tư nhân.  Tại Lào, Việt Nam và Campuchia, các nhà nghiên cứu Liên minh và đối tác đã tổ chức 10 hội thảo trong 6 tháng về các chủ đề như kế hoạch bảo tồn nguồn gen, phát triển cây giống cho các loài Giáng hương (Dalbergia spp.), một trong những loài gỗ có giá trị nhất thế giới trong dự án ​​”Bảo tồn nguồn gen Giáng hương cho sinh kế bền vững ở tiểu vùng Mêkong”. Bảo tồn hiệu quả các loài cây Giáng hương đã tạo điều kiện tốt cho kinh tế tiểu nông địa phương phát triển và tạo cơ hội thúc đẩy môi trường bền vững.

Quá quý giá nên không thể để mất

Trong bối cảnh diễn ra các sáng kiến ​​và sự kiện nêu trên, mối liên hệ khăng khít nội tại về lợi ích giữa tài nguyên rừng và con người đã được chứng minh ở cả cấp độ địa phương và trên quy mô toàn cầu.  Quản lý và sử dụng rừng bền vững, bao gồm các hệ sinh thái dễ tổn thương, là chìa khóa để chống lại biến đổi khí hậu và góp phần vào sự thịnh vượng và hạnh phúc của các thế hệ hiện tại và tương lai.

Gần đây, ngành nông nghiệp toàn cầu đã chứng kiến ​​sự gia tăng các dự án hỗ trợ tập trung vào cây rừng và lâm nghiệp.  Trong năm 2020, Liên minh sẽ tiếp tục các nghiên cứu về những rủi ro xảy ra với tài nguyên rừng toàn cầu và hướng sự hỗ trợ quốc tế vào các chiến lược bảo tồn và phục hồi phù hợp tại địa phương.  Liên minh hiểu rằng rừng quá quý giá nên không thể để mất.

 Nguồn: https://www.bioversityinternational.org/news/detail/an-alliance-for-trees-why-forest-biodiversity-is-too-precious-to-lose/

Biên dịch: Nguyễn Quỳnh

Hiệu đính: Ngô Trí Dũng

Top 10 quốc gia đứng đầu thế giới về sự đa dạng sinh học

Trước khi chúng ta tìm hiểu danh sách 10 quốc gia đứng đầu về sự đa dạng sinh học, thì cần phải lưu ý rằng có rất nhiều cách để đo lường mức độ đa dạng sinh học của một khu vực. Danh sách này có cách tiếp rất đơn giản, đó là xét đến những chỉ số quan trọng trong năm nhóm động vật ( lưỡng cư, chim, cá, động vật có vú, và bò sát), và một nhóm thực vật ( các loài thực vật có mạch). Mỗi đất nước được xếp hạng theo tỷ lệ phần trăm các loài trong mỗi nhóm so với tổng số của loài đó trên toàn cầu.

Danh sách này không tránh khỏi có một vài thiếu sót: hệ thống trên đã không tính đến những loài côn trùng và những loài động vật không có xương sống, nấm, vi sinh vật và nhiều nhóm sinh vật sống khác. Theo cách này, chúng ta sẽ không đo lường được sự đa dạng của các quần thể trong các loài, mức độ đặc hữu, hoặc sự nguyên vẹn của hệ sinh thái. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng danh sách này có thể đại diện công bằng cho những đất nước có sự đa dạng sinh học nhất hành tinh.

#10. Mỹ và Venezuela

Xét về mặt tư tưởng chính trị thì 2 đất nước này là 2 thái cực khác nhau (đối lập nhau), tuy nhiên ít ra họ cũng có một điểm chung là có sự đa dạng sinh học cao đáng kinh ngạc. Do sự đa dạng về hệ sinh thái nước ngọt và biển, Mỹ được xếp hạng đặc biệt cao về sự đa dạng của các loài cá, trong khi đó Venezula là một trong những quốc gia có sự đa dạng nhất thế giới khi nói đến các loài chim.

Loài chim Troupial Venezuela (ảnh Internet)

#9. Ecuador

Có diện tích nhỏ hơn tiểu bang Arizona của Mỹ nhưng Ecuador vượt xa toàn bộ nước Mỹ khi xét về sự đa dạng sinh học. Đất nước này trải dài từ vùng Andes đến Amazon, có cả quần đảo Galapagos, xếp trên Mỹ về những loài chim (với 1588 loài so với chỉ 844 loài của Mỹ) và những loài lưỡng cư (với 539 loài so với 300 loài của Mỹ)

#8. Ấn Độ

Với một vùng đất rộng lớn bao gồm một loạt các hệ sinh thái, Ấn Độ đạt điểm cao trên bảng về sự phong phú của loài.  Nó xếp hạng về sự đa dạng đặc biệt cao khi xét đến bò sát và chim.  Nước này được biết đến nhiều nhất với các loài thú lớn như: voi, tê giác, sư tử, hổ.

#7. Australia (Úc)

Australia thực sự phong phú về bò sát và cá, dẫn đầu thế giới ở cả hai loài này. Rạn san hô Great Barrier và các hệ sinh thái trên cạn từ các sa mạc khô cằn đến các khu rừng mưa nhiệt đới giúp cho nước này lên cao trong bảng xếp hạng.

Great Barrier Reef ở Úc ( ảnh Internet)

#6. Peru

Không có gì đáng ngạc nhiên, ba trong số sáu quốc gia hàng đầu trong danh sách này là ở Nam Mỹ, là nơi có rừng nhiệt đới lớn nhất thế giới (rừng Amazon).  Peru đứng thứ 2 chỉ sau Colombia về các loài chim và đứng trong top 5 trên toàn cầu về động vật lưỡng cư, động vật có vú và thực vật.

Đầu nguồn của con sông Amazon nổi tiếng là ở Peru ( ảnh Internet)

#5. Mexico

Mexico có nhiều loại môi trường sống: rừng mưa nhiệt đới Mexico – Mỹ trải rộng, rừng khô, hệ sinh thái đồi núi và sa mạc, thế nên không quá ngạc nhiên khi Mexico đạt điểm cao ở hầu hết các loài động thực vật. Trong đó, các loài chim, động vật có vú, bò sát và thực vật đặc biệt phong phú đa dạng.

#4. Trung Quốc

Khi nhắc tới dất nước Trung Hoa này chắc có lẽ bạn đang nghĩ về những thành phố lớn, nhộn nhịp hay những con gấu Panda?

Trung Quốc thực sự là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật khác nhau với những môi trường sống đa dạng đáng kinh ngạc, từ rừng mưa nhiệt đới ở Vân Nam đến sa mạc Gobi. Trung Quốc xếp hạng cao chót vót với các loài chim, thực vật và cá.

Ốc đảo- Thiên đường giữa sa mạc Gobi Trung Quốc( ảnh Internet)

#3. Indonesia

Một quần đảo gồm hơn 10.000 hòn đảo, Indonesia có một loạt các hệ sinh thái trên cạn và trên biển, bao gồm một phần của rừng nhiệt đới lớn thứ ba thế giới và Tam giác San hô nổi tiếng.

Indonesia đa dạng nhất thế giới về các loài động vật có vú. Theo FishBase, đất nước này chỉ thua Úc về đa dạng các loài cá. Theo BirdLife International, xét về chim chóc, nước này đứng thứ 4 thế giới, với 1615 loài chim. Có thể nói, Indonesia là nơi duy nhất trên hành tinh còn có thể tìm thấy tê giác, đười ươi, voi, gấu, và hổ trong cùng khu rừng.

Tam giác san hô ở Indonesia ( ảnh Internet)

#2. Colombia

Đa dạng về các loài chim, lưỡng cư và thực vật đã giúp Colombia đánh bại Indonesia để dành vị trí á quân trong bảng xếp hạng. Với 1826 loài, Colombia phong phú về chim chóc hơn bất kỳ nước nào trên Trái Đất. Sự đa dạng sinh học của Colombia là sản phẩm của nhiều hệ sinh thái, bao gồm rừng nhiệt đới ở Amazon và Choco, các vùng núi như Sierra Nevada và Andes, đồng cỏ llanos và Páramos, các đảo như Gorgona ở Thái Bình Dương và San Martin ở vịnh Caribbean.

Dòng sông 5 màu Cano Cristales ở Colombia (ảnh Internet)

#1. Brazil

Brazil là nhà vô địch đa dạng sinh học của Trái đất. Có rừng nhiệt đới Amazon và rừng Mata Atlantica, rừng ngập mặn giống như hoang mạc, đầm lầy nội địa khổng lồ được gọi là Pantanal, và một loạt các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước khác, Brazil dẫn đầu thế giới về các loài thực vật và lưỡng cư. Nước này xếp thứ hai về động vật có vú và động vật lưỡng cư, thứ ba về chim, bò sát và cá.

Rừng Đại Tây Dương ở Brazil ( ảnh Internet)

Nguồn: https://news.mongabay.com/2016/05/top-10-biodiverse-countries/

Biên dịch: Nguyễn Quỳnh

Các loài Rù rì ven suối ở A Lưới

Quanh mình cảnh vật ở đâu cũng đẹp. Mấy hôm đi rừng đo đếm mực nước ở các con suối, mình để ý quanh đó có khá nhiều cây nhìn lá tương đồng nhau, dân gian hay gọi là cây Rù rì (có nơi gọi là Rì rì). Tò mò làm thử bộ sưu tập ảnh, không ngờ sơ sơ đếm có đến 6 loài thuộc 6 họ thực vật khác nhau. Điều này lý giải vì sao cần phải nắm thêm tên khoa học của loài để phân biệt dễ dàng hơn với các đặc trưng khác biệt – vốn thường được mô tả khái quát trong các sách tham khảo về thực vật.

  1. Đầu tiên là loài Rù rì thuộc họ Long não (Lauraceae). Nhìn anh này khó ai đoán được tông ti họ hàng nếu không thấy hoa và quả. May mắn là tháng nào mình cũng đi thực địa nên có thời gian ghi lại cận cảnh từng thời điểm ra hoa, kết quả đầy đủ. Loài này có tên khoa học là Phoebe angustifolia – Rù rì mò cát. Như đặc trưng chung của các loài Rù rì là thường có lá thon dài và hẹp. Ở loài này, lá chỉ rộng 2cm nhưng dài tới gần 30cm, mọc cụm lại đầu cành. Cùng với chiều dài đặc trưng, cụm hoa cũng dài gần một nửa so với lá. Quả hình quả trám thon dài cỡ 1cm, khi non màu xanh, khi chín có màu tím thẫm.
Phoebe angustifolia
Phoebe angustifolia

2. Loài phổ biến và thường gặp nhất là cây Rù rì thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Khác với Rù rì mò cát ở trên với đặc trưng lá mọc cụm đầu cành, loài này có lá sắp xếp kiểu lông chim trên cùng mặt phẳng. Anh này có tên khoa học là Homonoia riparia – Rì rì. Nghe tên là biết nơi sống (riparia – ven sông/suối) nên thường rất hay gặp dọc bờ suối với đặc trưng lá xếp hai hàng bên cành như lông chim. Dễ dàng nhận biết loài này qua điểm đặc trưng (cả họ) là quả có 3 khía kiểu như quả chùm ruột, quả cao su, hay quả cây rau bồ ngót. Lá dùng đắp trị mxụt, rễ chữa sỏi thận.

Homonoia riparia

3. Một ứng viên khác đến từ họ Dâu tằm (Moraceae) nghe khá lạ tai nếu nghĩ rằng ven suối làm sao lại có loài Rù rì thuộc họ này. Loài có tên khoa học là Ficus subpyriformis – Rù rì bãi. Loài này nhìn qua có vẻ giống với loài Rù rì trong họ Cà phê, nhưng khác biệt là có nhựa mủ trắng (khi vặt thử cuống lá) và quả có hình hột xá lị, bổ ra bên trong thấy ngay kiểu quả sung/vả đặc trưng cho họ Dâu tằm.

Ficus subpyriformis

4. Loài Rù rì hay gặp ở các bãi bồi ven suối trong rừng, nơi có trảng cát rộng là loài thuộc họ Cà phê (Rubiaceae). Tên của loài này là Cephalanthus angustifolius – Rì rì lá lớn, Vảy lá hẹp. Loài có các đặc trưng của họ như cụm hoa hình đầu (tròn) màu trắng nhạt, lá mọc cụm 3 hoặc mọc đối, quả nang nhỏ mang đài tồn tại cả cụm hình tròn. Đây là kiểu quả tương tự với các loài khác trong cùng họ như quả Nhàu, quả Gáo.

Cephalanthus angustifolius
Cephalanthus angustifolius

5. Loài Rù rì có hoa đẹp và nở rộ thuộc họ Côm (Elaeocarpaceae). Loài có tên khoa học
Elaeocarpus hainanensis – Rì rì nang tai. Loài này cũng có lá mọc cụm đầu cành (như loài trong họ Long não), tuy nhiên mép lá có răng cưa. Hoa thì lại đặc trưng khác biệt với các tràng hoa xẻ mép (kiểu bị tưa rách). Trong sách PHH Vol1, hoa của loài này được ghi là màu trắng. Thực tế bắt gặp lại có màu hồng đỏ rất đẹp. Có thể đây là một dạng của loài này (var. annamensis). Nên nghiên cứu trồng làm cây cảnh trưng bày bởi hoa nở đúng dịp Tết rất đẹp.

Elaeocarpus hainanensis
Elaeocarpus hainanensis

6. Loài cuối cùng là Rù rì thuộc họ Sim (Myrtaceae). Loài này có tên khoa học là Syzygium attopeuense – Rì rì lá lớn. Lá của loài này có hình dạng tương tự như 2 loài Rù rì ở họ Cà phê và Dâu tằm, mọc đối, tuy nhiên lại có hoa đặc trưng của họ Sim: hoa có đế mập mọc thành chùm tụ tán ở nách lá. Quả đặc trưng trên đế mập mang đài đồng trưởng, kiểu như quả Đào/Mận, quả Ổi thường gặp. Loài mọc ven dựa suối, thường gặp ở bãi đất cao hơn so với các loài nêu trên.

Syzygium attopeuense

Tác giả: Dungngo

Giới thiệu khu vực nghiên cứu dự án FTViet

Dự án: ” Đánh giá bản chất của hiện tượng chuyển tiếp rừng ở Việt Nam: Dịch vụ hệ sinh thái và khả năng phục hồi của hệ sinh thái xã hội ở những diện tích rừng do địa phương quản lý”. (Viết tắt: Dự án FTViet).

A Lưới là một huyện miền núi biên giới phía Tây của tỉnh Thừa Thiên Huế, tiếp giáp với Lào. Đây là một trong những khu vực được nghiên cứu trong dự án FTViet.

Bản quyền: Phim phóng sự thuộc bản quyền của Trung tâm Tư vấn và Nghiên cứu về Quản lý Tài nguyên, Việt Nam/ Biên tập và sản xuất bởi cán bộ truyền thông CORENARM.

Nguồn: CORENARM

Tọa đàm: Quản lý bền vững cảnh quan rừng A Lưới, góc nhìn từ các bên liên quan

Tháng 4/2019, Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý Tài nguyên phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện A Lưới đã tổ chức buổi tọa đàm về ” Quản lý bền vững cảnh quan rừng A Lưới, góc nhìn từ các bên liên quan”.

Tại buổi tọa đàm, lãnh đạo ban ngành đoàn thể của huyện, xã, thị trấn đã cùng thảo luận những câu hỏi về những vấn đề liên quan đến bảo vệ tài nguyên rừng, quản lý bền vững cảnh quan trên địa bàn huyện A Lưới, nhằm đưa ra những hướng giải quyết thống nhất, tốt nhất cho tài nguyên rừng.

Các thay đổi căn bản trong chính sách lâm nghiệp Việt Nam dưới thời kỳ Đổi mới

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thiết lập một nền lâm nghiệp nhà nước theo hướng xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc Việt Nam. Mô hình này tiếp tục được thực hiện trên phạm vi cả nước sau ngày thống nhất đất nước. Mô hình lâm nghiệp nhà nước dựa trên chế độ công hữu tài nguyên rừng và được vận hành theo nguyên tắc nhà nước quản lý tập trung các hoạt động nghề rừng.

Chỉ thị số 15CT/CTCW được Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành ngày 10/3/1961 xác định: “Rừng là tài sản của toàn dân, phải do Nhà nước thống nhất quản lý” (BNNPTNT, 2001a). Khi đó, Nhà nước tập trung quản lý tài nguyên rừng thông qua hệ thống các lâm trường quốc doanh. Các lâm trường nhận kinh phí từ ngân sách quốc gia để thực hiện nhiệm vụ khai thác và trồng rừng theo các chỉ tiêu kế hoạch chi tiết do trung ương ban hành. Mục tiêu chính của ngành lâm nghiệp là “Đẩy mạnh khai thác gỗ và lâm sản để đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ khôi phục kinh tế” và “Đưa công nghiệp gỗ lên thành ngành công nghiệp quan trọng nhất” (BNNPTNT, 2001a). Việc xây dựng các chỉ tiêu khai thác không dựa trên tốc độ tăng trưởng tự nhiên của rừng mà chủ yếu căn cứ vào nhu cầu gỗ của nền kinh tế. Mô hình lâm nghiệp nhà nước giai đoạn 1945-1985 đã dẫn đến sự suy thoái nghiêm trọng của tài nguyên rừng với tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc giảm mạnh từ 43% xuống 30%, (De Jong et al., 2009). Công cuộc đổi mới về kinh tế và xã hội khởi đầu vào năm 1986 đã thúc đẩy sự cải cách sâu rộng trong nhiều lĩnh vực quan trọng của đất nước, bao gồm cả ngành lâm nghiệp. Năm 1991, Bộ Lâm nghiệp công bố Báo cáo Tổng quan Lâm nghiệp Việt Nam với đề xuất chuyển lâm nghiệp “từ một ngành kinh tế chỉ có nhà nước và tập thể được kinh doanh rừng sang một nền lâm nghiệp xã hội với sự tham gia của các thành phần kinh tế và nhiều lực lượng xã hội”; và “từ một ngành kinh tế có nhiệm vụ khai thác tài nguyên tự nhiên là chính trở thành một ngành kinh tế có nhiệm vụ cơ bản là xây dựng vốn rừng, sản xuất lâm sản” (BNNPTNT, 2001a).

Có thể nói công cuộc cải cách lâm nghiệp Việt nam trong vòng 30 năm qua tập trung vào hai vấn đề chính: (i) Ai (cá nhân, tổ chức, đoàn thể) là chủ thể quản lý tài nguyên rừng? và (ii) Làm thế nào để phát triển nguồn tài nguyên rừng lâu dài và hiệu quả? Mặc dù các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý và các nhà khoa học đều thống nhất cao về tầm quan trọng của xã hội hóa lâm nghiệp và quản lý rừng bền vững trong việc giải quyết hai vấn đề chính của cải cách lâm nghiệp Việt Nam, song sự thay đổi nội dung trọng tâm của hai khái niệm này trong vòng 30 năm qua đã phản ánh quá trình phát triển về mặt quan điểm chính sách đối với vấn đề chủ thể rừng và bảo vệ, phát triển rừng.

Từ chủ trương xã hội hóa lâm nghiệp

Xã hội hóa lâm nghiệp theo nghĩa chung nhất là quá trình huy động sự tham gia và đóng góp của các thành phần kinh tế và các lực lượng xã hội vào nghề rừng. Mặc dù khái niệm này xuất hiện và trở nên phổ biến trong thập niên 1990, song từ trước đó, ý tưởng về sự tham gia của các lực lượng xã hội vào lâm nghiệp đã được Pháp lệnh bảo vệ rừng năm 1972 đề cập khi xác định: “Việc bảo vệ rừng phải do nhà nước và toàn dân cùng làm” (HĐBT,1972). Tuy nhiên, vai trò của người dân tham gia vào hoạt động lâm nghiệp thời kỳ này còn rất hạn chế, chủ yếu là lao động thời vụ cho các lâm trường quốc doanh. Vào những năm 80, tài nguyên rừng mặc dù là tài sản công hữu và được nhà nước tập trung quản lý vẫn bị tàn phá nghiêm trọng. Tình trạng hầu như “vô chủ” của tài nguyên rừng đặt ngành lâm nghiệp trước đòi hỏi cấp bách phải xác định chủ thể quản lý rừng cụ thể. Giao rừng và đất rừng được xác định là giải pháp chính sách cho sự chuyển biến cơ bản trong công tác quản lý bảo vệ rừng: “Rừng và đất rừng là tài sản quốc gia thuộc sở hữu toàn dân, nhưng cần được giao cho từng Liên hiệp lâm công nghiệp, lâm trường, nông trường, hợp tác xã, từng hộ nông dân và các tổ chức kinh tế-xã hội khác quản lý kinh doanh theo quy hoạch, kế hoạch và pháp luật của nhà nước” (TCLN, 1982).

Quyết định số 184-HĐBT ngày 6/11/1982 của Hội đồng Bộ trưởng đã bước đầu thể chế hóa việc giao rừng và đất rừng cho các thành phần ngoài quốc doanh với các quy định về quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân, tập thể được giao khoán rừng và đất rừng. Với việc thể chế hóa này, mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế trong giao, khoán rừng và đất rừng trở thành nội dung chính trong nỗ lực thúc đẩy người dân tham gia vào lâm nghiệp. Trong Chiến lược dài hạn phát triển lâm nghiệp giai đoạn 1986-2009, Bộ Lâm nghiệp đã xác định nhiệm vụ của ngành là: “xác lập và không ngừng hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN trong các hoạt động lâm nghiệp, củng cố vững chắc 3 thành phần kinh tế, lấy quốc doanh làm nòng cốt, kinh tế tập thể là quan trọng và khuyến khích phát triển kinh tế gia đình theo những hình thức thích hợp” (BLN, 1987). Cụm từ “những hình thức thích hợp” cho thấy chính quyền trung ương (TW) thời kỳ này vẫn còn thận trọng trong vấn đề giao khoán rừng và đất rừng cho các thành phần ngoài quốc doanh.

Công cuộc đổi mới về kinh tế và xã hội từ năm 1986 đã cung cấp những tiền đề quan trọng cho xã hội hóa lâm nghiệp. Việc chuyển từ một nền kinh tế nhà nước kế hoạch hóa tập trung sang một nền kinh tế theo định hướng thị trường đã giải phóng lực lượng sản xuất ngành nông nghiệp vốn dựa trên các nông trường quốc doanh và hợp tác xã. Sự ra đời của Luật Đất đai năm 1993 cùng với việc tự do thông thương các sản phẩm nông nghiệp đã thúc đẩy quá trình giao đất nông nghiệp và lâm nghiệp cho các cá thể, hộ gia đình và tổ chức. Chính sách mở cửa của Việt Nam đối với thế giới cũng tạo điều kiện cho ngành lâm nghiệp phát triển hợp tác quốc tế, qua đó các khái niệm về phân cấp, phân quyền trong lâm nghiệp, quản trị, đa dạng sinh học và quản lý rừng bền vững được du nhập vào Việt Nam. Với những tiền đề quan trọng này, Báo cáo Tổng quan Lâm nghiệp Việt Nam năm 1991 đã đề xuất chuyển đổi lâm nghiệp Việt Nam từ lâm nghiệp nhà nước sang lâm nghiệp xã hội với sự tham gia của các thành phần kinh tế vào nghề rừng. Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (Luật BVPTR) năm 1991 cũng thể chế hóa bước chuyển biến này khi xác định: “Nhà nước giao rừng, đất trồng rừng cho tổ chức, cá nhân – dưới đây gọi là chủ rừng – để bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng ổn định, lâu dài theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước” (QHVN, 1991). Sau hàng thập kỷ của lâm nghiệp nhà nước, đây là luật lâm nghiệp đầu tiên của Việt Nam công nhận danh hiệu chủ rừng đối với các đối tượng được giao rừng và đất rừng, bao gồm cả thành phần ngoài quốc doanh.

Tuy nhiên, khả năng tham gia của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vào lâm nghiệp với tư cách chủ rừng trong thập niên 1990 sau khi Luật BVPTR 1991 ra đời vẫn còn hạn chế. Mặc dù Chương trình quốc gia 327[1] (CT 327) đánh dấu một bước quan trọng trong công tác giao khoán rừng và đất rừng khi xác định “Lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất”, vẫn “lấy doanh nghiệp quốc doanh hoặc đơn vị kinh tế tập thể làm chỗ dựa” (HĐBT, 1992). Phần lớn người dân địa phương tham gia vào CT 327 chỉ có hợp đồng ngắn hạn (1 năm) với các ban quản lý 327. Bên cạnh đó, sự áp dụng danh hiệu chủ rừng đối với cá nhân, tổ chức được giao rừng và đất rừng trong CT 327 vẫn còn khiên cưỡng. Trước hết, Hiến pháp Việt Nam quy định đất đai là sở hữu toàn dân và được nhà nước thống nhất quản lý. Luật BVPTR năm 1991 và Luật Đất đai năm 1993 cũng nhấn mạnh sở hữu nhà nước đối với rừng và đất rừng trên phạm vi cả nước. Các hộ gia đình và tổ chức chỉ có quyền sử dụng hạn chế đối với rừng và đất rừng được giao. Ngay cả các ban quản lý 327 cũng chỉ nhận đầu tư từ ngân sách quốc gia để thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh của TW về trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng.

Bất kể sự bất cập của danh hiệu chủ rừng, khẩu hiệu “mỗi khu rừng phải có chủ thực sự” vẫn trở nên phổ biến trong những năm 1990, đặc biệt sau khi Luật Đất đai năm 1993 sửa đổi cho phép thực hiện hợp đồng giao khoán đất dài hạn từ 20 đến 50 năm (QHVN, 1993). Luật cũng thể chế hóa các quyền chuyển nhượng và cho tặng qua giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sự thể chế hóa các quyền nói trên đã thúc đẩy sự phát triển nội dung trọng tâm của xã hội hóa lâm nghiệp từ sự cần thiết phải thiết lập chủ cụ thể cho từng khu rừng sang làm rõ các quyền và lợi ích của chủ rừng. Các nhà hoạch định chính sách thừa nhận “muốn quản lý rừng tốt phải có chủ rừng cụ thể ở từng khu rừng và chủ rừng phải có lợi ích xứng đáng từ rừng đưa lại” (Tô, 1997). Tại Diễn đàn Lâm nghiệp Quốc gia năm 1998, (nguyên) Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn cũng khẳng định: “Xã hội hóa lâm nghiệp là một chủ trương chiến lược quan trọng, được thực hiện thông qua việc giao đất , giao rừng tới các hộ gia đình và các tổ chức có tư cách pháp nhân, thực hiện rừng phải có chủ thực sự và người lao động có quyền hưởng thụ thành quả từ sản xuất kinh doanh nghề rừng, tạo động lực hấp dẫn để huy động mọi nguồn lực của nhân dân tham gia bảo vệ và phát triển vốn rừng” (Nguyễn, 1998). Mặc dù có sự gia tăng các quan tâm về quyền và lợi ích của chủ rừng, Chương trình Trồng mới 5 triệu ha rừng (CT 661) được triển khai vào năm 1998 lại chỉ xác định những đối tượng tham gia là những người hưởng lợi thay vì chủ rừng (TTCP, 1998). Có thể nói, tuy sự tham gia của các thành phần kinh tế vào giao, khoán rừng và đất rừng đã được thể chế hóa bởi Luật BVPTR 1991, các thành phần quốc doanh vẫn tiếp tục giữ vai trò áp đảo trong lâm nghiệp.

Sự phát triển nội dung của khái niệm xã hội hóa lâm nghiệp trong những năm cuối thập niên 1990 và đầu thập niên 2000 xoay quanh quyền sử dụng và sở hữu rừng. Các nhà hoạch định chính sách cơ bản thống nhất về 5 hình thức chủ rừng bao gồm: Ban quản lý rừng đặc dụng và phòng hộ; công ty, xí nghiệp lâm nghiệp quốc doanh; công ty xí nghiệp ngoài quốc doanh; hợp tác xã lâm nghiệp; hộ gia đình được giao rừng và đất rừng sản xuất (Nguyen, 1998). Các quyền và nghĩa vụ của chủ rừng 3 loại rừng đặc dụng, phòng hộ và sản xuất cũng được cụ thể hóa bởi các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (TTCP): Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/1/2001 về quy chế quản lý rừng tự nhiên đặc dụng, phòng hộ và sản xuất; Quyết định số 178/2001 QĐ-TTg ngày 12/11/2001 về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp; và Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/ 2006 về quy chế quản lý rừng. Tuy nhiên, các văn bản này vẫn không làm giảm sự bất cập của danh hiệu chủ rừng. Trước hết, quyền sở hữu rừng của các chủ rừng vẫn chưa được thừa nhận. Luật Đất đai 1993 và Luật Đất đai sửa đổi năm 1998 và 2003 thể chế hóa một hệ thống sở hữu đất đai theo hình thức tư nhân hóa không hoàn toàn (quasi-private property rights), trong đó đất đai vẫn là sở hữu toàn dân. Các chủ rừng chỉ có quyền sử dụng rừng và đất rừng, và các quyền này trên thực tế vẫn bị hạn chế so với quyền sử dụng đất nông nghiệp. Nhìn chung, chủ rừng đặc dụng và phòng hộ không có quyền quyết định và chỉ thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và sử dụng rừng dưới sự giám sát các cơ quan chức năng về lâm nghiệp. Họ cũng không có quyền chuyển nhượng, trao đổi, và cầm cố quyền sử dụng rừng. Đối với rừng sản xuất, chỉ chủ rừng trồng tự bỏ vốn mới có các quyền chuyển nhượng, trao đổi, thừa kế, cho thuê và cầm cố quyền sử dụng đất và sử dụng chúng trong kinh doanh. Các chủ rừng sản xuất là rừng tự nhiên chỉ có quyền thế chấp, bảo lãnh phần giá trị gia tăng của trữ lượng gỗ được tạo thành do công sức đầu tư của họ. Tuy nhiên, trên thực tế, hầu như không có khả năng xác định được phần giá trị gia tăng này trong trữ lượng gỗ tăng trưởng tự nhiên của rừng (Vũ, 2012).

Mặc dù nhà nước có nhiều nỗ lực về cải cách chính sách lâm nghiệp giai đoạn 1990-2000, những quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ rừng vẫn chưa được tường minh để tạo động lực cho bảo vệ phát triển rừng (Nguyễn, 2002). Các chuyên gia lâm nghiệp cũng cho rằng: “Sự thừa nhận quyền quản lý gắn liền với hệ thống về quyền sử dụng tài nguyên rừng và đất rừng” (Hoàng, 1999); “Phát triển rừng phải gắn với đất và người làm nghề rừng”; và “giao đất giao rừng gắn với cấp giấy chứng nhận QSDĐ và quyền sở hữu rừng” (Vương, 2004). Năm 2004, Luật BVPTR sửa đổi đã đánh dấu một bước tiến mới trong xã hội hóa lâm nghiệp khi thể chế hóa “quyền sở hữu rừng” của chủ rừng sản xuất là rừng trồng (QHVN, 2004). Tuy nhiên, các chuyên gia lâm nghiệp vẫn cho rằng trên thực tế “tư duy lý luận về quyền sở hữu rừng, quyền kinh doanh rừng, quyền hưởng các nguồn lợi từ rừng chưa rõ ràng và minh bạch… Thực trạng phát triển kinh tế nhiều thành phần ở ngành lâm nghiệp chậm hơn các ngành khác…, phần lớn diện tích rừng và đất rừng vẫn do các tổ chức nhà nước quản lý, sử dụng” (Lê & Tô, 2007). Trên cơ sở việc luật hóa quyền sở hữu rừng trồng trong Luật BVPTR năm 2004, các chuyên gia đề xuất hình thức đan xen quyền sở hữu ở nhiều khu rừng (Lê & Tô, 2007).

Đến xu hướng quản lý rừng bền vững

Quản lý rừng bền vững (QLRBV) theo nghĩa chung nhất là sự quản lý rừng và đất rừng nhằm phát triển và sử dụng lâu dài nguồn tài nguyên rừng. Mặc dù khái niệm này bắt đầu phổ biến tại Việt Nam trong những năm đầu thập niên 2000, nhưng ý tưởng chung về QLRBV đã xuất hiện từ những năm 70 dưới nội dung bảo vệ và phát triển vốn rừng. Trước tình trạng suy thoái nghiêm trọng của tài nguyên rừng, Bộ trưởng bộ Lâm nghiệp đã xác định tại Hội nghị quốc gia về xây dựng và phát triển lâm nghiệp năm 1979: “xây dựng, bảo vệ, sử dụng và phát huy vốn rừng, đất rừng là nhiệm vụ cơ bản và cấp bách của ngành lâm nghiệp” (TCLN, 1979). Tuy nhiên, khái niệm vốn rừng thời kỳ này chỉ đơn giản nói về trữ lượng gỗ có thể khai thác ổn định theo chu trình khai thác-tái sinh-khai thác của rừng tự nhiên (Nguyễn, 1981). Thuật ngữ vốn rừng sau đó trở nên phổ biến trong các văn bản chính sách lâm nghiệp Việt Nam vào những năm 80.

Trước sự suy thoái nghiêm trọng của tài nguyên rừng trong thập niên 1980, ngành lâm nghiệp xác định việc ngừng khai thác gỗ rừng tự nhiên và khai hoang rừng lấy đất làm nông nghiệp là các biện pháp cấp bách để bảo vệ diện tích rừng tự nhiên còn lại. (Phan, 1982, 1984). Năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 194/CT quy định 73 khu rừng cấm (769.512 ha) nhằm mục đích bảo tồn. Chu trình khai thác-tái sinh-khai thác đối với rừng tự nhiên cũng được thay thế bằng quá trình phục hồi rừng bằng giải pháp trồng rừng nhằm phủ xanh 13 triệu ha đất trống và đồi trọc (BLN, 1987).

Chính sách mở cửa của công cuộc đổi mới tạo điều thuận lợi trong việc triển khai các dự án lâm nghiệp hợp tác với nước ngoài và sự du nhập các khái niệm lâm nghiệp quốc tế như quản lý rừng bền vững (QLRBV). Đề xuất chuyển nền sản xuất lâm nghiệp dựa trên khai thác gỗ sang bảo vệ vốn rừng của Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam (1991) và việc thể chế hóa hệ thống phân loại 3 loại rừng (đặc dụng, phòng hộ và sản xuất) của Luật BVPTR năm 1991 đã đặt cơ sở bước đầu cho QLRBV trong cải cách lâm nghiệp quốc gia. Cùng với việc đóng cửa rừng tự nhiên trên diện rộng từ năm 1992, CT 327 được triển khai với mục tiêu phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Tuy nhiên, có thể nói công tác phục hồi rừng dưới CT 327 chủ yếu nhấn mạnh các chỉ tiêu định lượng đơn thuần về diện tích rừng và độ che phủ rừng.

Các quan ngại về sự suy giảm chất lượng rừng nổi lên vào những năm cuối của CT 327. Trong ngày Lâm nghiệp Việt Nam năm 1996, lãnh đạo của ngành lâm nghiệp đã thừa nhận mức độ nghiêm trọng của tình trạng suy thoái rừng, về cả độ che phủ rừng và chất lượng rừng (Nguyễn, 1996). Các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý và chuyên gia lâm nghiệp cũng cho rằng mất rừng là nguyên nhân khiến các tai họa thiên nhiên (bão, lũ) xảy ra thường xuyên hơn, và số lượng quần thể của một số loài động, thực vật quý hiếm bị suy giảm (Lê và Trần, 1996; Lê, 1997; Nguyễn, 1996, 1998; Võ, 1997; Hà 1998).

Sự thay đổi nội dung trọng tâm của QLRBV từ mặt phòng hộ môi trường sang bảo tồn đa dạng sinh học được đặc biệt thúc đẩy sau khi một số loài thú mới được phát hiện tại Việt Nam vào những năm đầu và giữa thập niên 1990. Cục Kiểm lâm và Viện Điều tra Quy hoạch rừng (ĐTQHR) đã đề xuất thành lập, mở rộng nhiều khu bảo tồn thiên nhiên với sự hỗ trợ của các tổ chức bảo tồn quốc tế như WWF, BirdLife International hay FFI. Quan điểm này được thể hiện rõ trong Báo cáo quốc gia của đoàn đại biểu Việt Nam tại Hội Nghị Lâm nghiệp quốc tế lần thứ XI năm 1997: “Hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên được xây dựng theo sắc lệnh năm 1986 và hiện chỉ chiếm 976.216 ha hay 3% tổng diện tích tự nhiên cả nước, còn rất thấp so với chỉ tiêu của khu vực” (TCLN, 1997).

Năm 1997, danh sách 94 khu rừng đặc dụng sẽ được thiết lập đến năm 2010 (sau đây gọi là danh sách 2010) được công bố, theo đó diện tích rừng đặc dụng được đề xuất mở rộng từ 1,3 triệu ha lên 2 triệu ha, chiếm khoảng 6% tổng diện tích cả nước (ICEM, 2003). Từ 1998 đến năm 2000, Viện ĐTQHR phối hợp với BirdLife International đề xuất tăng diện tích các khu bảo tồn lên 2,1 triệu ha qua dự án bổ sung 25 khu bảo tồn vào danh sách 2010 nhằm bảo vệ tốt hơn đa dạng sinh học Việt nam và bảo tồn những loài đang bị đe dọa toàn cầu. (Wege et al,1999). Trong giai đoạn này, nhiều dự án lâm nghiệp do quốc tế hỗ trợ, gọi tắt là ICDP (lồng ghép bảo tồn và phát triển) đã thúc đẩy gia tăng vai trò của cộng đồng trong quản lý rừng, hay giới thiệu chứng chỉ rừng, chẳng hạn FSC, như một giải pháp thị trường cho quản lý rừng bền vững (Phan et al, 2006). Tuy các sáng kiến này vẫn còn mang tính thử nghiệm ở mức độ dự án và chưa được thể chế hóa trong các văn bản chính sách lâm nghiệp, các kinh nghiệm thu thập được từ những dự án nói trên đã thu hút sự chú ý đến các khía cạnh xã hội của QLRBV. Một số chuyên gia lâm nghiệp (Tô, 1998, Trần, 1999, Đinh et al., 2005) đánh giá các quy hoạch về QLRBV chưa tính đến các yếu tố kinh tế xã hội có khả năng tác động đến QLRBV, đặc biệt là sự thiết lập các khu rừng đặc dụng không tính đến nhu cầu của dân số đang tăng. Điều này gây nên xung đột giữa các khu bảo tồn và người dân địa phương khiến đa dạng sinh học của Việt nam vẫn tiếp tục suy thoái và hệ sinh thái vẫn không bền vững bất kể sự mở rộng của hệ thống rừng đặc dụng.

Các chuyên gia cũng khuyến cáo diện tích các khu rừng đặc dụng chỉ nên chiếm tỷ lệ 5-6% diện tích cả nước, tương đương 1,5-2 triệu hecta (Tran, 1999). Hội nghị quốc gia năm 2001 về tổng kết sự phát triển các khu bảo tồn cũng bày tỏ quan ngại về sự hạn chế trong các lựa chọn sử dụng đất cho người dân sống trong và quanh khu bảo tồn (Anon, 2001). Trước những quan ngại này, Chiến lược Lâm nghiệp Quốc gia 2001-2010 xác định diện tích rừng đặc dụng đến năm 2010 là 2,0 triệu ha (BNNPTNT, 2001b). Tuy nhiên, bản Chiến lược vẫn quy hoạch gần 50% diện tích rừng Việt nam là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ. Quyết định 08/2001/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ cũng quy định rừng đặc dụng được bảo vệ nghiêm ngặt và không được khai thác dưới bất cứ hình thức nào. Năm 2002, Viện ĐTQHR và Cục Kiểm lâm, với sự hợp tác của WWF và BirdLife International trình dự thảo danh sách 2010 mở rộng với diện tích rừng đặc dụng được nâng lên 7,9% diện tích cả nước với lập luận các khu bảo tồn hiện hành quá nhỏ để bảo tồn các quần thể thú lớn (ICEM, 2003). Chiến lược Lâm nghiệp Quốc gia giai đoạn 2006-2020 xác định diện tích rừng đặc dụng không quá 2,16 triệu ha (TTCP, 2007). Tuy nhiên, mục tiêu này đã thay đổi khi Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước (do Thủ tướng phê duyệt năm 2014) xác định đến năm 2020 diện tích rừng đặc dụng của Việt Nam sẽ được mở rộng lên 2,4 triệu ha với 176 khu (34 vườn quốc gia, 58 khu bảo tồn thiên nhiên, 14 khu bảo tồn loài và sinh cảnh, và các loại khác). Tuy nhiên, những can thiệp chiến lược này vẫn nặng về kỹ thuật bảo tồn hơn là lồng ghép mạnh mẽ các yếu tố kinh tế-xã hội trong bảo tồn thiên nhiên và QLRBV.

Vào những năm cuối thập niên 2000, nội dung trọng tâm của khái niệm QLRBV xoay quanh sự xung đột giữa công tác bảo tồn và sinh kế của người dân địa phương. Một số chuyên gia lâm nghiệp cho rằng công tác bảo vệ rừng ở các khu bảo tồn không hiệu quả bởi vì ban quản lý các khu rừng đặc dụng vẫn chưa kết hợp sự tham gia của cộng đồng địa phương và sinh kế của họ vào kế hoạch quản lý (Larsen, 2008). Vì chính sách lâm nghiệp Việt Nam quá nhấn mạnh về bảo tồn đa dạng sinh học (Nguyen et al, 2011), cải cách lâm nghiệp cần có sự cân bằng giữa mục tiêu bảo tồn và sinh kế của người dân địa phương (To, 2009).

Trong giai đoạn này, một số quy định nghiêm ngặt trong công tác quản lý các khu rừng đặc dụng đã được nới lỏng. Quyết định số 186/QĐ-TTg của TTCP và Nghị định 117/2010/NĐ-CP về tổ chức và quản lý rừng đặc dụng cho phép Ban quản lý của các khu rừng đặc dụng phát triển các dự án bảo đảm bảo tồn và quản lý bền vững nguồn tài nguyên. Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong công tác bảo tồn cũng được khuyến khích bằng Thông tư số 70/2007/TT-BNN hướng dẫn thiết lập và thi hành các kế hoạch bảo tồn và phát triển có sự tham gia của người dân địa phương. Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành các quyết định số 07/2012/QĐ-TTg, số 24/2012/QĐ-TTg hay số 126/QĐ-TTg cung cấp khung pháp lý cho việc thực hiện đồng quản lý rừng, chia sẻ lợi ích, quyền và nghĩa vụ của Ban quản lý rừng đặc dụng và cộng đồng địa phương với nhấn mạnh chủ yếu tới tạo thu nhập và cải thiện sinh kế gắn liền với giao khoán bảo vệ rừng. Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg về Chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020 đã quy định hỗ trợ các cộng đồng vùng đệm các khu rừng đặc dụng và cho phép sử dụng cũng như cho thuê môi trường rừng đặc dụng để phát triển du lịch sinh thái theo quy định. Ngoài ra, Bộ NN&PTNT cũng thành lập Ban chỉ đạo thực hiện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng và triển khai Chương trình UN-REDD[2] Việt Nam. Từ năm 2011, cùng với sự ban hành và thực hiện chính sách chi trả DVMTR theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP (nay đã sửa đổi thành Nghị định 143/2016/NĐ-CP) hay Nghị định 75/2015/NĐ-CP ngành lâm nghiệp đã cho thấy tiếp tục đặt trọng tâm vào cải thiện thu nhập cho hộ gia đình, cộng đồng, nhất là hộ nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số, như là một giải pháp để giảm sức ép lên phá rừng và mất rừng thông qua giao khoán bảo vệ rừng bằng của nguồn vốn ngân sách và xã hội hóa.

Các thay đổi căn bản trong lâm nghiệp và hướng cải cách sắp tới

Sự xuất hiện và phổ biến của hai khái niệm xã hội hóa lâm nghiệp và QLRBV đánh dấu bước chuyển biến quan trọng của lâm nghiệp Việt Nam dưới thời kỳ đổi mới. Quá trình phát triển và thể chế hóa nội dung của hai khái niệm này trong các văn bản pháp lý lâm nghiệp phản ánh các thay đổi căn bản của chính sách nghề rừng đối với chủ thể quản lý rừng và công tác bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng.

Trong khi Pháp lệnh bảo vệ rừng năm 1972 chỉ khái quát chung sự tham gia của toàn dân vào công tác bảo vệ rừng, Luật PT&BVR năm 1991 xác định chính sách giao, khoán rừng và đất rừng cho các cá nhân, tổ chức là giải pháp chính của xã hội hóa lâm nghiệp và thể chế hóa danh hiệu chủ rừng với các đối tượng được giao rừng và đất rừng trong nỗ lực đảm bảo mỗi khu rừng đều có chủ cụ thể. Tuy nhiên, danh hiệu chủ rừng với các quyền và lợi ích hạn chế đã khơi dậy vấn đề quyền sử dụng và sở hữu rừng. Luật BVPTR năm 2004 đã cho thấy bước phát triển mới của xã hội hóa lâm nghiệp khi công nhận quyền sở hữu rừng của chủ rừng sản xuất là rừng trồng. Nhìn chung, quyền và lợi ích của các chủ rừng đặc dụng, phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên vẫn còn hạn chế.

Khái niệm QLRBV cũng phát triển từ sự đánh giá lợi ích của rừng đơn thuần về mặt cung cấp lâm sản (chủ yếu ở trữ lượng gỗ tròn khai thác) đến sự nhấn mạnh các giá trị môi trường và đa dạng sinh học. Với sự thay đổi về mặt quan điểm này, mục tiêu phục hồi rừng và bảo tồn đã có chỗ đứng quan trọng trong chính sách lâm nghiệp Việt Nam. Sự phát triển tiếp theo của nội dung QLRBV cho thấy bước chuyển biến mạnh từ nỗ lực gia tăng đơn thuần độ che phủ rừng trong những năm 1990, đến những quan tâm rộng hơn về bảo vệ và phát triển đa dạng sinh học trong những năm 2000. Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích các khu rừng đặc dụng trong thời gian qua cho thấy quản lý rừng bền vững còn đặt nặng các giá trị bảo tồn thuần túy. Các văn bản pháp lý về lâm nghiệp những năm gần đây cho thấy đã có sự quan tâm hơn về các yếu tố kinh tế-xã hội liên quan như sinh kế của người dân địa phương trong quản lý rừng bền vững.

Dự thảo Luật BVPTR sửa đổi (BNNPTN, 2016) đã đề xuất một số giải pháp cho các bất cập của xã hội hóa lâm nghiệp và QLRBV thời gian qua. Việc phân biệt các hình thức sở hữu rừng (rừng thuộc sở hữu toàn dân, rừng thuộc sở hữu riêng, và rừng thuộc sở hữu chung) giúp xác định một cách phù hợp quyền và nghĩa vụ liên quan của các tổ chức và cá nhân được giao rừng và đất rừng. Nỗ lực cân bằng các mặt môi trường, kinh tế và xã hội của QLRBV được nhấn mạnh qua các quy định tận thu lâm sản và khai thác lâm sản bền vững; khuyến khích nâng cao giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị lâm nghiệp; gắn bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học rừng với nâng cao giá trị DVMTR, ứng phó với biến đổi khí hậu, đồng thời góp phần đảm bảo an ninh môi trường, xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế- xã hội vùng miền núi. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, điểm mắc nhất trong dự thảo Luật BVPTR sửa đổi là việc chưa phân định rõ rừng là tài nguyên hay tài sản và rừng tự nhiên có phải chỉ thuộc sở hữu toàn dân không? Theo quan điểm của một số chuyên gia tham dự Tọa đàm “Rừng Việt Nam sẽ có chủ thực sự?” do Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) tổ chức ngày 28/12/2016, cần phân chia rừng tự nhiên xem trong đó có bao nhiêu ha rừng ít chịu tác động của con người thì coi đó là rừng tự nhiên thuộc sở hữu toàn dân, còn nếu có yếu tố tác động của con người, cụ thể là các thành phần chủ rừng trong đó thì nên công nhận quyền sở hữu tư đối với các chủ thể. Có như vậy mới tạo được động lực để người dân tham gia vào việc bảo vệ, phát triển rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên.

* Bài viết sử dụng một số nội dung chính của bài báo khoa học:Dang, T. K. P, Turnhout, E. , Arts, B. 2012. Changing forestry discourses in Vietnam in the past 20 years. Forest and Policy Economics 25 (2012) 31-41.     

(Đặng Thị Kim Phụng –Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tây Ninh)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Anon, 2001.Vietnam: firstnationalroundtables,//www.mekong-protected areas.org/vietnam/vietnam/round1.htm

2. BLN (Bộ Lâm nghiệp), 1987. Phương hướng chiến lược phát triển lâm nghiệp dài hạn (1986-2009). Tạp chí Lâm nghiệp, 1987 (3), 2.

3. BNNPTNT(Bộ Nông nghiệp- Phát triển nông thôn). 1998.Kỷ yếu Diễn đàn Lâm nghiệp quốc gia.Nhà xuất bản Nông nghiệp.

4. BNNPTNT, 2001a. Lâm Nghiệp Việt Nam (1945-2000) – Quá trình phát triển và những bài học kinh nghiệm. Nhà Xuất Bản Nông Nghiệp.

5. BNNPTNT, 2001bChiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001-2010.

6. BNNPTNT, 2007. Thông tư số 70/2007/TT-BNN ngày 1 tháng 8 năm 2007, về việc hướng dẫn và tổ chức thực hiện Quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn.

7. BNNPTNT, 2016. Dự thảo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi).

8. De Jong, W., Do Dinh Sam and Trieu Van Hung., 2006. Forest rehabilitation in Vietnam, histories, realities and future. Report from the study ‘Review of forest rehabilitation: lessons from the past’. Center of International Forestry Research.

9. Dinh Duc Thuan, Forestry University Research Team, 2005. Forest, poverty reduction and livelihood. Resource document. Forest Sector Support Program & Partnership.

10. Hà Chu Chữ, 1998. Vai trò của rừng và lâm nghiệp trong giảm nhẹ khí nhà kính. Tạp chí Lâm Nghiệp 1998 (6), 20-23.

11. HĐBT (Hội đồng Bộ trưởng), 1972. Pháp lệnh Bảo vệ rừng.

12. HĐBT, 1982. Quyết định ngày 6/11/1982 của Hội đồng Bộ trưởng về việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho tập thể và nhân dân trồng cây, gây rừng.

13. HĐBT, 1986. Quyết Định số 194/CT, ngày 9 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc quy định các khu rừng cấm.

14. HĐBT, 1992. Quyết định của Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng số 327-CT ngày 15 tháng 9 năm 1992 về một số chủ trương và chính sách sử dụng đất trống đồi trọc, bãi bồi ven biển và mặt nước.

15. Hoàng Hữu Cải, 1999. Lâm nghiệp xã hội ở Việt Nam dưới góc nhìn của cán bộ đào tạo. Tạp chí Lâm Nghiệp 1999, 61-63.

16. ICEM, 2003. Vietnam National Report on Protected Areas and Development. Review of Protected Areas and Development in the Lower Mekong River Region. International Centre for Environmental Management.

17. Larsen, P.B.,2008.Linking livelihoods and protected area conservation in Vietnam: Phong Nha Kẻ Bàng World Heritage, local futures? Perspectives of the Swiss National Centre of Competence in Research (NCCR) North-south, vol.3.

18. Lê Du Phong, Tô Đình Mai, 2007. Góp phần nghiên cứu chính sách lâm nghiệp ở Việt Nam trong thòi kỳ công nghiệp hóa. Nhà xuất bản Nông nghiệp.

19. Lê Huy Ngọ, 1997. Lâm nghiệp nước ta đã có những chuyển biến tích cực: lấy bảo vệ, xây dựng vốn rừng làm nhiệm vụ cơ bản Tạp chí Lâm Nghiệp 1997 (12), 1-2 .

20. Lê Sáu, Trần Xuân Thiệp, 1996. Về sử dụng đất trống đồi núi trọc ở nước ta. Tạp chí Lâm Nghiệp 1996 (4+5), 11-13 .

21. Nguyễn Công Tạn, 1996. Kỷ niệm ngày Lâm nghiệp Việt Nam 28 tháng 11 năm 1996. Tạp chí Lâm Nghiệp 1996 (6), 1.

22. Nguyễn Công Tạn, 1998. Phát huy mọi nguồn lực để bảo vệ và phát triển rừng. Tạp chí Lâm Nghiệp 1998 (6), 6-7 .

23. Nguyen Dinh Tien, Tran Du Vien, Nguyen Thanh Lam, 2011.Too Much Focus on Forest Conservation,Too Little on Food. RECOFTC, Thailand.

24. Nguyen Huu Tu, 1998. Chủ rừng và các cơ chế chính sách cần thực hiện. Tạp chí Lâm nghiệp 1998 (10), 40-41.

25. Nguyễn Ngọc Bình, 2002. Phát triển kinh tế Lâm Nghiệp trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn: Thực trạng, mục tiêu và giải pháp. Đặc san về xây dựng phát triển rừng 2002, 2-6.

26. Nguyễn Văn Tương, 1981. Lâm trường Hương Sơn thực hiện khai thác và xây dựng rừng. Tạp chí Lâm Nghiệp 1981 (6), 13-16.

27. Phan Hoài Đức, Lê Công Uẩn, Nguyễn Ngọc Lung, Phạm Minh Thoa, 2006. Chứng chỉ rừng. MARD-FSSP, Hanoi.

28. Phan Xuân Đợt, 1982. Bảo vệ và phát triển rừng là sự nghiệp to lớn của toàn dân. Tạp chí Lâm Nghiệp 1982 (9), 13-16.

29. Phan Xuân Đợt, 1984. Sử dụng đất trống đồi núi trọc theo phương thức kết hợp nông-lâm nhằm phát huy có hiệu quả tiềm năng lao động và tài nguyên, phục vụ các mục tiêu kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường. Tạp chí Lâm Nghiệp 1984 (1), 12-17.

30. QHVN (Quốc hội Việt Nam), 1991Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.

31. QHVN, 1993Luật đất đai.

32. QHVN, 2003Luật đất đai.

33. QHVN, 2004. . Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.

34. TCLN (Tạp chí Lâm nghiệp), 1979. Xây dựng vốn rừng là nhiệm vụ cơ bản và cấp bách của toàn ngành Lâm nghiệp. Tạp chí Lâm nghiệp 1979 (11), 5-11.

35. TCLN, 1982. Xã luận: Cần phải chuyển biến cơ bản về công tác quản lý bảo vệ rừng. Tạp chí Lâm Nghiệp 1982 (9), 2-3.

36. TCLN, 1997. Nguồn tài nguyên đa dạng sinh học rừng ở Việt Nam. Tạp chí Lâm Nghiệp 1997 (10), 2-6

37. Tô Đình Mai, 1997. Mấy vấn đề về chính sách phát triển Lâm nghiệp đến năm 2010. Tạp chí Lâm Nghiệp 1997 (4+5), 38-40.

38. Tô Đình Mai, 1998. Góp phần thảo luận vấn đề quản lý rừng bền vững ở Việt Nam trong thời kỳ mới Tạp chí Lâm nghiệp 1998 (3), 39-40.

39. To Xuan Phuc, 2009.Why did the forest conservation policy fail in the Vietnamese uplands? Forest conflicts in BaVi National Park in Northern Region.International Journal of Environmental Studies 66(1),59–68.

40. Trần Đình Đàn, 1999. Về quản lý sử dụng các khu rừng đặc dụng . Tạp chí Lâm nghiệp 1999 (4), 4-5.

41. TTCP (Thủ tướng Chính phủ), 1998. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 661/QĐ-TTg v/v mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng.

42. TTCP, 2001. Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11 tháng 1 năm 2001 của Thủ tướng Chính Phủ về quy chế quản lý rừng tự nhiên đặc dụng, phòng hộ và sản xuất. Hà Nội.

43. TTCP, 2001. Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2001 của Thủ tướng Chính Phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.

44. TTCP, 2006. Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính Phủ về quy chế quản lý rừng.

45. TTCP, 2007. Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 2 năm 200 của Thủ tướng Chính Phủ về ban hành Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2008-2020.

46. TTCP, 2010. Nghị định 117/2010/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng.

47. TTCP, 2012. Quyết đinh số 24/2012/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020.

48. TTCP, 2012. Quyết đinh số 126/2012/QĐ-Ttg.ngày 02 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm chia sẻ lợi ích trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng

49. Võ Văn Kiệt, 1997. Phát triển mạnh trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên. Tạp chí Lâm Nghiệp 1997 (4+5), 1-2.

50. Vũ Long, 2012. Một vài ý kiến về giao đất giao rừng cho hộ gia đinh- Chính sách và Thực tiễn”. Báo cáo tham luận tại Hội thảo “Giao đất lâm nghiệp-Chính sách và thự trạng”, 10/4/2012, Hà Nội.

51. Vương Xuân Chinh, 2004. Một số đề xuất thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 2005-2010. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 50 (2), 3-5.

52. Wege, D. C., Long, A. J., Mai Ky Vinh, Vu Van Dung, Eames, J. C., 1999. Expanding the Protected Areas System in Vietnam. An Analysis of the Current System with Recommendations for Equitable Expansion. Conservation Report Number 6.

 [53] Chương trình được triển khai trong giai đoạn 1992-1997, về sử dụng đất trống đồi trọc, bãi bồi ven biển và mặt nước (HĐBT, 1992).

[54] Reduce Emissions from Deforestation and Forest Degradation.

Nguồn: Bảo vệ rừng và môi trường.org.vn